Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2013
Tình hình Kinh tế - Xã hội năm 2013
Thứ ba, Ngày 21 Tháng 1 Năm 2014

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang

năm 2013

I-KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế:

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) năm 2013 ước tính đạt 18.126 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994) tăng 9,5% so với năm 2012, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,6%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 14,6%, khu vực dịch vụ tăng 9,7%. GDP theo giá thực tế đạt 60.630 tỷ đồng; thu nhập bình quân/người/năm đạt 35,5 triệu đồng, tăng 4,4 triệu đồng so với năm 2012.

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: tăng trưởng 4,6% so với năm 2012, tăng thấp so với những năm gần đây, trong đó nông nghiệp tăng 4,7%, tăng thấp hơn cùng kỳ 1,6%, thủy sản tăng 4,8%.

- Khu vực công nghiệp - xây dựng: tăng trưởng 14,6%, tăng thấp hơn năm 2012 là 0,7%, trong đó công nghiệp tăng 17,5%; ngành xây dựng tiếp tục gặp khó khăn do kiềm chế lạm phát, vốn ngân sách của tỉnh dành cho đầu tư xây dựng ít, thị trường bất động sản chưa được khai thông, giá nguyên vật liệu đầu vào tăng... năm 2013 tăng 2,5% so cùng kỳ.

- Khu vực dịch vụ: tăng trưởng 9,7%, tăng cao hơn năm 2012 là 0,3%, đa số các ngành trong khu vực này đều tăng so với cùng kỳ nhưng chưa có đột phá.  Bên cạnh đó có một số ngành giảm, tăng thấp so cùng kỳ như: ngành tín dụng ngân hàng giảm 0,6%, du lịch lữ hành chỉ bằng 83,9% (năm 2012 tăng 2,5%), vận tải, kho bãi tăng 5,1% (năm 2012 tăng 8,4%)...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch đúng định hướng theo xu hướng tăng tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp và giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 40,8% (kế hoạch 45%), khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 30,7% (kế hoạch 30%), khu vực dịch vụ chiếm 28,5% (kế hoạch 25%); năm 2012 tỷ trọng các khu vực này lần lượt là 42,8%, 29,1% và 28,1%.

2. Tài chính, tín dụng:

Tổng thu ngân sách năm 2013 đạt 7.213,2 tỷ đồng, trong đó thu từ kinh tế địa phương thực hiện được 3.760,4 tỷ đồng, đạt 93,2% so dự toán và tăng 9,7% so cùng kỳ. Có 7/10 huyện, thành, thị thu không đạt dự toán năm, huyện có số thu vượt dự toán năm cao nhất là Chợ Gạo (đạt 142,5%). Một số khoản thu có tỷ trọng lớn thực hiện trong năm như: thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 565 tỷ đồng, đạt 85,6% dự toán, bằng 99,6% so cùng kỳ; thu từ doanh nghiệp nhà nước 329,6 tỷ đồng, đạt 103% dự toán, tăng 24,2%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh 902 tỷ đồng, đạt 84,3% dự toán, tăng 17,2%; thuế thu nhập cá nhân 265 tỷ, đạt 88,3% dự toán, tăng 1,5%; thu phí lệ phí chỉ đạt 72,2% so dự toán và bằng 83,1%... Tổng chi ngân sách nhà nước ước đạt 7.454,8 tỷ đồng, trong đó chi trong cân đối ngân sách địa phương là 6.306,1 tỷ đồng (chiếm 84,6%), đạt 120,6% dự toán và tăng 17,6% so cùng kỳ; chi đầu đầu tư phát triển 2.535,6 tỷ đồng (kể cả nguồn thu từ xổ số kiến thiết) đạt 156,9% so dự toán, tăng 24,6%; chi thường xuyên 4.595,8 tỷ đồng đạt 112,6% dự toán và tăng 7,2%.

b. Tín dụng - ngân hàng:

Tổng thu tiền ước thực hiện được 183 ngàn tỷ đồng, bằng 96,4% so cùng kỳ; tổng chi tiền mặt thực hiện được 188 ngàn tỷ đồng bằng 98,5% so với cùng kỳ. Tổng vốn huy động trên địa bàn ước đạt 25.441 tỷ đồng, tăng 2.521 tỷ đồng so đầu năm, trong đó huy động từ tiền gửi tiết kiệm chiếm 86,1% trên tổng vốn huy động. Dư nợ cho vay dự kiến đến cuối năm đạt 18,7 ngàn tỷ đồng, tăng 16% so đầu năm (tăng 2,6 ngàn tỷ đồng). Nợ xấu hiện nay của các ngân hàng chiếm 2,4% trên tổng dư nợ (446 tỷ đồng), so với đầu năm giảm 0,6%.

3. Đầu tư và xây dựng:

Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn năm 2013 thực hiện được 19.022,8 tỷ đồng đạt 95,1% kế hoạch tăng 12,2% so năm 2012, khu vực nhà nước 2.785,4 tỷ đồng tăng 14,7%, khu vực ngoài nhà nước 12.807,9 tỷ đồng tăng 14,4%, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 3.429,5 tỷ đồng tăng 2,8%. Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 1.860 tỷ đồng đạt 106% kế hoạch tăng 4,1%, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.239,4 tỷ đồng tăng 4,2%, vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 521,2 tỷ đồng tăng 3,7%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã 99,4 tỷ đồng tăng 5,2%.

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: Trong năm thu hút được 8 dự án giảm 2 dự án so cùng kỳ; tổng vốn đăng ký 87 triệu USD bằng 44,2% so năm 2012, trong đó đầu tư vào khu công nghiệp Tân Hương một dự án và khu công nghiệp Long Giang 4 dự án. Các quốc gia Hàn Quốc, Malaysia, Trung Quốc và Nhật Bản mỗi nước có 2 dự án đầu tư.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:

a. Nông nghiệp:

Diện tích cây lương thực có hạt cả năm gieo trồng được 239.982 ha giảm 6.073 ha so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch được 1.363.696 tấn giảm 1,6% chủ yếu chuyển đổi cây trồng, riêng năng suất đều tăng hoặc đạt xấp xỉ so cùng kỳ.  

- Cây lúa: gieo sạ được 235.625 ha giảm 2,4% so cùng kỳ (giảm 5.797 ha), năng suất thu hoạch bình quân được 57,2 tạ/ha đạt 102,5% kế hoạch tăng 0,9%; sản lượng thu hoạch được 1.348.717 tấn đạt 102,8% kế hoạch giảm 1,6% do diện tích giảm 5.797 ha,

- Cây bắp: trồng được 4.318 ha đạt 95,9% kế hoạch giảm 6,1% so cùng kỳ, năng suất bình quân 34,5 tạ/ha đạt 102,6% kế hoạch tăng 2,6% với sản lượng 14.882 tấn đạt 98,5% kế hoạch giảm 3,7%.

- Các loại cây hàng năm khác: Cây chất bột có củ: gieo trồng được 1.648 ha, đạt 128,8% kế hoạch giảm 12,3% so cùng kỳ, chủ yếu là cây khoai mỡ với diện tích 1.413 ha; Cây rau, đậu các loại gieo trồng được 47.497 ha đạt 14,7% kế hoạch tăng 13,4% so cùng kỳ, năng suất 174 tạ/ha tăng 3,9% (tăng 6,6 tạ/ha) với sản lượng 826.510 tấn tăng 17,9%. Trong đó rau các loại là chủ yếu với diện tích gieo trồng 47.269 ha, với sản lượng 825.852 tấn, tăng 125.476 tấn do tăng diện tích và năng suất tăng 6,5 tạ/ha.(Xem biểu Sản xuất nông nghiệp)

- Cây lâu năm: Toàn tỉnh hiện có 84.861 ha cây lâu năm, trong đó cây ăn quả 68.734 ha tăng 1.410 ha so cùng kỳ chủ yếu ở cây xoài, chuối, thanh long. Riêng cây thanh long đạt năng suất cao là do người nông dân sử dụng phương pháp "xông đèn" cho ra hoa nghịch vụ và xen kẽ nhau nên cho trái quanh năm mang lại thu nhập ổn định, thanh long nghịch vụ bán được giá khá cao, thấp nhất là 6 ngàn đồng/kg và có thời điểm trên 20 ngàn đồng/kg.

Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2013, đàn heo có 584.163 tăng 1,5% so với thời điểm 01/10/2012, đàn gia cầm có 7.194 ngàn con tăng 9,6%, đàn trâu có 294 con giảm 7,8%, đàn bò có 76.462 con tăng 7,6%. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng năm 2013 được 16.867 tấn tăng 16,1% so cùng kỳ, thịt heo hơi 103.657 tấn tăng 3,4%,…

b. Thủy, hải sản:

Diện tích nuôi trồng thủy sản các loại được 15.362 ha đạt 105,9% kế hoạch tăng 6,2% so với cùng kỳ, nuôi thủy sản mặn, lợ được 8.643 ha đạt 106,2% kế hoạch tăng 10,5% so cùng kỳ, nuôi nước ngọt 6.719 ha đạt 105,6% kế hoạch tăng 1,1% so cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên tôm thiệt hại 436,3 ha, do hoại tử gan-tụy. Nuôi nghêu: từ giữa tháng 2/2013 đến giữa tháng 3/2013 có 1.508,5 ha nghêu nuôi tại vùng ven biển Gò Công bị thiệt hại, chiếm hơn 97 % diện tích nuôi, tỉ lệ thiệt hại từ 50-100%.

Sản lượng nuôi trồng và khai thác trong năm được 228.852 tấn, đạt 106,1% kế hoạch và tăng 2,2% so cùng kỳ, sản lượng nuôi trồng được 136.602 tấn tăng 1%, khai thác biển được 87.550 tấn đạt 103,8% kế hoạch tăng 4,1%, khai thác nội địa được 4.700 tấn. Tuy nhiên do giá nhiên liệu và chi phí đầu vào tăng cao làm hiệu quả sản xuất thấp. Nuôi trồng, khai thác thủy hải sản của tỉnh những năm qua và năm 2012 phát triển ổn định nhất là nuôi trồng, nhưng luôn khó khăn về tiêu thụ, giá bất thường làm cho ngư dân thiếu an tâm sản xuất. (Xem biểu Thuỷ sản)

Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới có 6 xã được phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới và 26 xã được phê duyệt đồ án quy hoạch. Từ khi triển khai xây dựng nông thôn mới đến nay có 35 xã được phê duyệt đề án và 48 xã được phê duyệt đồ án. Trong 29 xã được chọn xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 đã đầu tư 59,1 tỷ đồng cho cơ sở hạ tầng, đạt 78,8% tổng số vốn giao năm 2013.

5. Sản xuất công nghiệp và kinh tế tập thể:

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp năm 2013 tăng 12,1% so cùng kỳ, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,3%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,6%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,2%, riêng công nghiệp khai khoáng chỉ bằng 28,7% so cùng kỳ do nguồn tài nguyên cát sông ngày càng khan hiếm.

Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2013 tính theo giá cố định năm 1994 được 14.375 tỷ đồng đạt 100,1% kế hoạch và tăng 19,1% so cùng kỳ, khu vực kinh tế nhà nước thực hiện 407,4 tỷ đồng tăng 19,6%, khu vực kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 10.033,4 tỷ đồng tăng 21,5%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 3.934,2 tỷ đồng tăng 13,4%. Riêng công nghiệp tiểu thủ công nghiệp ngoài nhà nước các huyện, thành phố, thị xã thực hiện đều vượt kế hoạch năm. (Xem biểu chỉ số sản xuất công nghiệp)

Năm 2013 toàn tỉnh có 01 Liên Minh HTX nông nghiệp và 101 HTX gồm: 44 HTX nông nghiệp, 16 HTX tiểu thủ-công nghiệp, 8 HTX thương mại-dịch vụ, 3 HTX xây dựng, 11 HTX vận tải, 16 quỹ tín dụng nhân dân, 2 HTX thuỷ sản và 01 HTX y tế. Đánh giá khách quan có nhiều HTX, tổ hợp tác hoạt động có tăng về doanh thu, lợi nhuận mang lại lợi ích thiết thực cho xã viên, tạo việc làm thường xuyên và thu nhập cho người lao động, góp phần cùng chính quyền, địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, các công trình phúc lợi và tham gia thực hiện các chính sách bảo đảm an sinh xã hội và xây dựng nông thôn mới… Tuy nhiên khu vực kinh tế tập thể còn nhiều hạn chế, yếu kém nhất là lĩnh vực nông - thủy sản nhiều HTX đang rơi vào cảnh “sống dở, chết dở” do sản xuất, kinh doanh không hiệu quả.

6. Thương mại, giá cả và dịch vụ:

a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội:

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện được 38.474 tỷ đồng tăng 17% so cùng kỳ, Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp đạt 31.076 tỷ đồng tăng 18,7%, lưu trú và ăn uống đạt 3.415 tỷ đồng tăng 19,9%, du lịch lữ hành đạt 45 tỷ đồng giảm 8,8%, dịch vụ đạt 3.938 tỷ đồng tăng 3,9% so cùng kỳ. (Xem biểu Tổng mức bán lẻ HH  và doanh thu dịch vụ)

Năm 2013 trên địa bàn tỉnh đã đầu tư xây dựng, tổ chức mới 4 chợ và nâng cấp, sửa chữa 5 chợ, tổng vốn đầu tư là 31,6 tỷ đồng, trong đó vốn xã hội hóa 20,4 tỷ đồng. Để chuẩn bị hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên Đán Giáp Ngọ năm 2014, có 7 doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia thực hiện dự trữ với tổng trị giá vốn, cung ứng hàng hóa Tết trên 312,5 tỷ đồng (tăng 28 tỷ đồng so với Tết Nguyên đán năm 2013), trong đó hàng hóa thiết yếu là 86,9 tỷ đồng (tăng hơn 18 tỷ đồng so với Tết Nguyên đán năm 2013), Ủy ban nhân dân tỉnh hỗ trợ cho doanh nghiệp vay ưu đãi 30,3 tỷ đồng trong vòng 4 tháng.

b. Xuất – nhập khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 1.060,5 triệu USD, đạt 106,1% kế hoạch và tăng 8,9% so cùng kỳ, kinh tế nhà nước thực hiện đạt 130,4 triệu USD giảm 21,4%. Năm 2013 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang phát triển mạnh góp phần tăng trị giá xuất khẩu của tỉnh kim ngạch xuất khẩu chiếm khoảng 47,9%, các mặt hàng sản xuất chủ yếu như: giày dép các loại đạt 196,3 triệu USD tăng 63,5%, Sản phẩm bằng plastic đạt 142,6 triệu USD bằng gấp 439,6 lần… Riêng các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh có xu hướng giảm, ngoại trừ hàng dệt may tăng có kim ngạch tăng 10%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh:

+ Hàng thủy sản kim ngạch xuất khẩu đạt 285,6 triệu USD giảm 16% so cùng kỳ; về lượng đạt 131 ngàn tấn giảm 1.380 tấn, trong đó mặt hàng fillet cá tra đạt 120 ngàn tấn chiếm 91,6% tổng sản lượng xuất khẩu, giảm 2,6%.

+ Hàng rau quả: cả năm xuất khẩu 5.280 tấn đạt kim ngạch 6,4 triệu USD giảm 25,2% so cùng kỳ do nguồn nguyên liệu không ổn định, mặt hàng mang tính chất thời vụ, công suất hoạt động của nhà máy khoảng 20% nên giá thành sản phẩm cao.

+ Gạo: xuất được 206.282 tấn giảm 19,6% so cùng kỳ (giảm 50.328 tấn), đạt kim ngạch 90,7 triệu USD giảm 23,4%. Tình hình xuất khẩu gạo gặp nhiều khó khăn, giá lúa gạo nội địa biến động liên tục, giá xuất bình quân năm 2013 giảm 4,74%, tương đương giảm 21,85 USD/tấn.

+ Hàng dệt may: xuất được 18 triệu sản phẩm, đạt kim ngạch gầm 200 triệu USD tăng 10% so cùng kỳ. Tình hình xuất khẩu hàng may mặc tương đối thuận lợi. Tuy nhiên hàng may mặc cũng gặp khó khăn về nguồn nguyên phụ liệu, do đó nếu đẩy mạnh đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành may sẽ tạo ra giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh cho ngành dệt may, giảm được chi phí giá thành cho sản phẩm. (Xem biểu Nhập khẩu hàng hóa)

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện 589,1 triệu USD tăng 42% so cùng kỳ, chủ yếu là nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất sơ chế da, sản xuất túi xách và giày dép đạt 178,6 triệu USD tăng 137,1%, ngành may mặc đạt 135,1 triệu tăng 40,8%, sản xuất các sản phẩm từ kim loại đạt 102 triệu USD tăng 14,4%, sản xuất thực phẩm và đồ uống đạt 127,6 triệu USD tăng 3,5%... (Xem biểu Nhập khẩu hàng hóa)

3. Chỉ số giá tiêu dùng:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     

 

   Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2013 tăng 0,45% so với tháng 11/2013, khu vực thành thị tăng 0,54% và khu vực nông thôn tăng 0,43%. So với cùng kỳ năm trước chỉ số giá tiêu dùng tăng 7,18%, và bình quân 12 tháng năm 2013 so với bình quân 12 tháng năm 2012 tăng 6,62%.

         So với tháng trước, CPI tháng 12/2013 có 5/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, chỉ số giá tăng cao nhất ở nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,91%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,61%, may mặc, mũ, nón, giày dép tăng 0,39%...; có 4/11 nhóm hàng có chỉ số giá tương đương tháng trước: đồ uống và thuốc lá; bưu chính viễn thông; giáo dục, văn hóa giải trí và du lịch; có 2/11 nhóm hàng có chỉ số giá giảm: nhóm hàng giao thông giảm 0,31%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06%. Chỉ số giá vàng giảm 2,3% và chỉ số đô la Mỹ tăng 0,02% so tháng trước. (Xem biểu chỉ số giá)

4. Du lịch:

Năm 2013 lượng khách đến tỉnh đạt 991,5 ngàn lượt người giảm 6,7% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế là 449,7 ngàn lượt giảm 6,4%. Trong năm ngành các doanh nghiệp du lịch đã thực hiện nhiều chương trình kích cầu nhưng kết quả không khả quan có nhiều nguyên nhân tác đông như: tình hình kinh tế khó khăn nhu cầu vui chơi, giải trí, du lịch của người dân giảm đi đặc biệt là hình thức kinh doanh có kích cầu đổi mới nhưng không mới, chưa tạo ấn tượng cho du khách… Tổng doanh thu khách sạn, nhà hàng, du lịch lữ hành thực hiện được 3.460,7 tỷ đồng tăng 20% so cùng kỳ, trong đó doanh thu du lịch lữ hành chiếm 1,2%.

5. Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 1.576,9 tỷ đồng tăng 13,1% so cùng kỳ, kinh tế nhà nước thực hiện 64,8 tỷ đồng tăng 5,2%, kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 1.512,1 tỷ đồng tăng 13,5%. Vận tải đường bộ thực hiện 953,3 tỷ đồng tăng 13,4%, vận tải đường sông thực hiện 558,9 tỷ đồng tăng 13,7%, vận tải đường biển thực hiện 64,7 tỷ đồng tăng 5,2%.

Vận tải hành khách đạt 32.578 ngàn lượt khách tăng 0,6% và luân chuyển được 1.158.224 ngàn lượt khách.km tăng 9,8% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 25.099 ngàn lượt khách tăng 4,2% và luân chuyển được 1.138.862 ngàn lượt khách.km tăng 10,2% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 7.479 ngàn lượt khách giảm 7,8% và luân chuyển được 19.362 ngàn lượt khách.km giảm 7,2%.

Vận tải hàng hóa đạt 13.099 ngàn tấn tăng 7,6% và luân chuyển được 1.201.395 ngàn tấn.km tăng 9,1% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 3.946 ngàn tấn tăng 6,5% và luân chuyển được 330.487 ngàn tấn.km tăng 8,7% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 9.153 ngàn tấn tăng 8,1% và luân chuyển được 870.908 ngàn tấn.km tăng 9,2%.

*Phương tiện giao thông: Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 809.247 chiếc, mô tô xe máy có 790.760 chiếc, 18.328 xe ô tô, 107 xe ba bánh và 52 xe khác.

6. Bưu chính viễn thông:

Doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.250 tỷ đồng tăng 7,6% so cùng kỳ, ngành bưu chính doanh thu đạt 50 tỷ đồng giảm 34,9%, viễn thông đạt 1.200 tỷ đồng tăng 10,6%. Doanh thu bưu chính giảm là do các trước đây bưu điện tỉnh có dịch vụ thu hộ cước viễn thông, năm 2013 đã trả về cho doanh nghiệp viễn thông thu cước; mặt khác mạng lưới viễn thông rộng khắp với nhiều tiện ích cho việc việc sử dụng nên khách hàng không cần đến các điểm phục vụ bưu điện. Năm 2013 số thuê bao điện thoại giảm 55.800 thuê bao, ước tính tổng số thuê bao trên mạng đến cuối tháng 12/2013 là 278.037 thuê bao (số thuê bao điện thoại cố định: 218.014 và di động trả sau: 60.023), mật độ điện thoại bình quân đạt 16,4 thuê bao/100 dân. Thuê bao Internet trên địa bàn tỉnh có 773 đại lý, ước tính năm 2013 phát triển 3.487 thuê bao, tổng số thuê bao Internet trên mạng đến cuối năm 2013 là 43.924 thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 2,60 thuê bao/100 dân.

B-MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, giải quyết việc làm:

     Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và xã hội, tính đến 20/11/2013 có 399 lao động đăng ký tham gia xuất khẩu lao động, xuất cảnh được 102 lao động đi sang các nước Nhật Bản 73 lao động, Hàn Quốc 15, Malaysia 5 và Đài Loan 3 lao động, ước tính đến cuối năm 120 lao động xuất cảnh đạt 80% tăng 51,9% so năm 2012. Trong năm giải quyết việc làm và tạo việc làm cho 20.930 lao động đạt 87.2% kế hoạch, trong đó tạo việc làm thêm là 10.610 lao động.

 Các Trung tâm giới thiệu việc làm tư vấn 21.210 lượt lao động đạt 117,8% kế hoạch, ước tính đến cuối năm đạt 120% kế hoạch đề ra; giới thiệu việc làm cho 5.099 lượt lao động và giới thiệu cho 3.486 lao động có được việc làm. Tổ chức được 17 phiên giao dịch việc làm, có 144 lượt đơn vị tham gia tuyển dụng với nhu cầu tuyển dụng 5.700 lao động đã thu hút khoảng 2.895 lượt lao động tham gia trực tiếp.

Theo số liệu tổng hợp nhanh điều tra lao động việc làm 2013, tỷ lệ thất nghiệp toàn tỉnh là 1,68% tăng 13,4% so năm 2012 tập trung phần lớn ở khu vực thành thị do sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn sản xuất bị thu hẹp, lương thấp nên người lao động không thiết tha với công việc, bỏ việc tìm việc mới… Chính sách bảo hiểm thất nghiệp cũng được người lao động quan tâm, đến nay có 9.113 trường hợp đăng ký, trong đó tiếp nhận hồ sơ của tỉnh khác chuyển đến 2.803 người. Số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 8.883 người với tổng số tiền chi trả tương đương 56,9 tỷ đồng.

2. Đời sống dân cư, bảo đảm an sinh xã hội:

Tình hình sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản còn tồn tại không ít khó khăn ảnh hưởng rất lớn đến mức thu nhập của nông dân; thương lái Trung Quốc hoạt động không lành mạnh tại các khu vực sản xuất nông sản chuyên canh sầu riêng, khóm... gây thiệt hại lớn cho sản xuất và thị trường nông sản; giá cả tiêu dùng còn đứng ở mức cao. Theo kết quả tổng hợp nhanh điều tra Khảo sát mức sống năm 2013, thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng chung toàn tỉnh là 2.079 ngàn đồng, tăng 8,7% so với năm 2012 (năm 2012: 1.913 ngàn đồng/người/tháng); trong đó thành thị là 2.878 ngàn đồng tăng 3,23%, nông thôn là 1.944 ngàn tăng 10,7% so năm 2012.

Công tác an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm qua được các ngành, các cấp quan tâm và đã triển khai thực hiện các hoạt động mang nhiều ý nghĩa: đã tổ chức thăm hỏi, động viên tặng quà cho các gia đình chính sách, hộ già cả neo đơn khó khăn, hộ nghèo nhân dịp lễ, Tết...; Hỗ trợ về y tế cho người thuộc hộ cận nghèo, hộ nghèo mua bảo hiểm y tế; cấp số ưu đãi Giáo dục - Đào tạo hỗ trợ học phí cho học sinh nghèo; hỗ trợ tiền điện, nhà ở, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật... cho hộ nghèo; hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển... nhằm giảm bớt hộ khó khăn cho gia đình.

Từ đầu năm đến nay đã xây dựng được 351 căn nhà tình nghĩa, tổng giá trị 11.255 triệu đồng, sửa chữa 112 căn. Xây dựng nhà đại đoàn kết được 424 căn. Vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa đến nay được 15.220 triệu đồng tăng 9,3% so cùng kỳ.

3. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng:

Ngành y tế tuyên truyền vận động nhân dân ý thức cao về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. So với cùng kỳ, năm bệnh truyền nhiễm ghi nhận 9 bệnh tăng,5 bệnh giảm, các bệnh khác tương đương hoặc không xảy ra, các bệnh tăng: bệnh quai bị xảy ra 1.208 cas (tăng 329,9%), bệnh cúm (tăng 233,3%), uốn ván khác (tăng 60%), thủy đậu (tăng 9,6%). Một số bệnh giảm như: tiêu chảy (giảm 21,7%), sởi (giảm 100%), rubella (giảm 100%), tay chân miệng (giảm 35,3%),… khám bệnh cho 5.960.056 lượt người giảm 7,9%, với số lượt người điều trị nội trú là 217.685 lượt người tăng 4,1%.

          Công tác phòng chống bệnh sốt xuất huyết trong năm đã xảy ra 1.575 người giảm 64% so cùng kỳ, không có tử vong (năm 2012 tử cong 2 người); bệnh HIV có 226 cas nhiễm HIV mới (tổng số hiện có 3.703 cas) giảm 22,9% và số cas mới AIDS 151 người (hiện có 1.449 cas) giảm 35,2%, số cas tử vong do AIDS là 58 cas (hiện có 800 cas tử vong) tăng 1,7 so với cùng kỳ. Kế hoạch hóa gia đình thực hiện được 226 cas đình sản tăng 19,6% so cùng kỳ, trong đó có 01 cas nam.

          Vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được quan tâm, đã kiểm tra 11.186 cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm có 88,6% cơ sở đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngộ độc thực phẩm xảy ra 2 vụ, có 810 người bị ngộ độc so cùng kỳ giảm 3 vụ, số người mắc tăng 525 người, không có tử vong.

4. Giáo dục, đào tạo:

Theo số liệu thống kê đầu năm học 2013-2014 mạng lưới trường, lớp, qui mô học sinh và đội ngũ giáo viên giảng dạy được tổng hợp cụ thể như sau:

- Về mạng lưới trường học: Giáo dục mầm non có 3 nhà trẻ, 81 trường mẫu giáo, 98 trường mầm non, Giáo dục phổ thông có 227 trường tiểu học, 125 trường trung học cơ sở, 33 trường trung học phổ thông và 03 trường phổ thông cấp 2-3; Giáo dục thường xuyên có 2 trung tâm, 5 trung tâm giáo dục thường xuyên-hướng nghiệp; 3 khoa giáo dục thường xuyên trong trường trung cấp chuyên nghiệp và 169 trung tâm học tập cộng đồng.

- Về qui mô học sinh: Giáo dục mầm non: nhà trẻ có 177 nhóm, 3.837 trẻ đạt tỷ lệ 5,1% so dân số 0-2 tuổi (tăng 0,8% so với năm học trước), mẫu giáo có 1.362 lớp với 47.556 học sinh đạt tỷ lệ 63,9% so dân số 3-5 tuổi (giảm 1,5%), huy động 99,9% trẻ 5 tuổi ra lớp; Giáo dục phổ thông: Tiểu học: 4.439 lớp với 141.460 học sinh đạt tỉ lệ 108% so với dân số 6-10 tuổi (tăng 985 học sinh), trong đó tuyển mới vào lớp 1 là 27.639 học sinh đạt tỷ lệ 100% so với dân số 6 tuổi; Trung học cơ sở: 2.502 lớp với 97.404 học sinh đạt tỉ lệ 96,9% so với dân số 11-14 tuổi (tăng 3.706 học sinh), trong đó tuyển mới vào lớp 6 là 25.973 học sinh đạt tỷ lệ 99,2% so học sinh tốt nghiệp tiểu học; Trung học phổ thông có 968 lớp với 37.874 học sinh đạt tỉ lệ 45,6% so với dân số 15-17 tuổi (giảm 2.025 học sinh), trong đó tuyển mới vào lớp 10 có 12.166 học sinh đạt tỷ lệ 68,4% so với học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở; Giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp: 5.586 học viên bổ túc trung học (1.347 trung học cơ sở, 4.239 trung học phổ thông), trong đó tuyển mới 1.840 học sinh lớp 10 hệ giáo dục thường xuyên đạt tỷ lệ 10,3% so với học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, có 1.316 học sinh trung cấp chuyên nghiệp thuộc Sở, trong đó tuyển mới 397 học sinh.

- Giáo viên: Tổng số giáo viên mầm non và phổ thông là 15.324 người (trong đó mầm non: 2.222 người, tiểu học: 6.169 người, THCS: 4.789 người, THPT: 2.144 người).

Về trình độ đào tạo của giáo viên: Mầm non đạt chuẩn 2.021 người đạt tỉ lệ 90,9%, trong đó trên chuẩn 868 người, tỉ lệ 42,1%; Tiểu học đạt chuẩn 6.102 người đạt tỉ lệ 98,9%, trong đó trên chuẩn 3.867 người, tỉ lệ 63,4%; THCS đạt chuẩn 4.772 người đạt tỉ lệ 99,6%, trong đó trên chuẩn 2.281 người, tỉ lệ 47,8%;  THPT đạt chuẩn 2.129 người đạt tỉ lệ 99,3%, trong đó trên chuẩn 176 người, tỉ lệ 8,2%.

Tính đến đầu năm học 2013-2014 có 118 trường đạt chuẩn quốc gia: mầm non 10 trường, tiểu học 92 trường, trung học cơ sở 13 trường, trung học phổ thông 3 trường (tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia so với tổng số trường của từng bậc học là mầm non 5,5%, tiểu học 40,4%, trung học cơ sở 10,3% và trung học phổ thông 8,3%). Kết quả kỳ thi tuyển sinh năm học 2013 – 2014 của Trường Đại Học Tiền Giang nhận có 2.050 sinh viên trúng tuyển đại học, gổm hệ đại học có 1.049/1.010 đạt 103,9% hệ cao đẳng có 1.001/1.810 đạt 55,3% so với chỉ tiêu.

5. Văn hóa, thể thao:

Toàn tỉnh hiện có 64/169 xã, phường văn hóa đạt tỷ lệ 37,9%, có 940/1.019 khu phố đạt tiêu chuẩn văn hóa đạt tỷ lệ 92,2%. Xây dựng nếp sống văn hóa nơi công cộng trong năm cộng nhận mới 50 cơ sở thờ tự văn hóa, 53 con đường văn hóa, 3 chợ văn hóa và 2 công viên văn hóa, toàn tỉnh hiện có 23 chợ, 9 công viên, 170 con đường và 267 cơ sở thờ tự đạt danh hiệu văn hóa... Công tác kiểm tra hoạt động văn hóa cũng được thực hiện thường xuyên, qua kiểm tra 39 cuộc với 598 lượt, phát hiện 75 vụ vi phạm. Tổng số tiền thu phạt được là 225 triệu đồng. Tịch thu 9 ổ cứng máy vi tính, 6 thẻ nhớ điện thoại di động, 5 USB, 212 đĩa ca nhạc, sân khấu in nhân bản lậu...

Phong trào thể dục thể thao trên toàn tỉnh tiếp tục duy trì, ổn định và phát triển, thể thao thành tích cao được thực hiện theo đúng kế hoạch, đảm bảo theo yêu cầu và đạt được 406 huy chương các loại (127 HCV, 141 HCB, 138 HCĐ) tại các giải thi đấu trong và ngoài nước.

6. Tai nạn giao thông:

Theo báo cáo của Ngành công an đến 15 tháng 11 năm 2013:

Tai nạn giao thông đường bộ: Toàn tỉnh đã xảy ra 492 vụ tai nạn, làm chết 244 người, làm bị thương 480 người; so cùng kỳ tăng 285 vụ, số người chết tăng 25 người, số người bị thương tăng 354 người. Số vụ vi phạm xảy ra 106.588 vụ so cùng kỳ giảm 62.249 vụ, phạt tiền 89.877 vụ với số tiền 58.856 triệu đồng. Tai nạn giao thông đường thủy: xảy ra 8 vụ tai nạn, so cùng kỳ tăng 4 vụ. Vi phạm phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy xảy ra 18.174 vụ, so cùng kỳ giảm 1.356 vụ, phạt tiền 12.423 vụ với số tiền phạt 4.073 triệu đồng.

7. Tình hình cháy nổ, môi trường:

Năm 2013 xảy ra 35 vụ cháy và 2 vụ nổ, làm chết 01 người, bị thương 4 người với tổng tài sản thiệt hại ước tính trên 15,5 tỷ đồng; trong đó tháng 4 là tháng có số vụ cháy tăng đột biến (9 vụ). Vi phạm môi trường đã phát hiện là 78 vụ: tài nguyên khoáng sản 15 vụ, môi trường 13 vụ, đất đai 7 vụ, tài nguyên nước 43 vụ; đã xử lý 78 vụ với tổng số tiền xử phạt là 831,4 triệu đồng, trong đó có 2 vụ tồn của năm 2012 chuyển sang phạt tiền 265,3 triệu đồng.

8. Thiệt hại do thiên tai gây ra:

Thiên tai trong năm xảy ra 3 đợt lốc xoáy ở một số địa bàn dân cư của các huyện Tân Phú Đông, Châu Thành Cái Bè làm chết 01 người, bị thương 01 người, 21 căn nhà bị sập hoàn toàn, 103 căn bị tốc mái, xiêu vẹo; tổng giá trị thiệt hại ước tính khoảng 1.211,6 triệu đồng.

 

CỤC THỐNG KÊ TIỀN GIANG

Các tin cùng chuyên mục:

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 11 năm 2019 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2018 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*) +0,14
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng +12,8
Trị giá xuất khẩu -14,9
Trị giá nhập khẩu -34,8
Khách quốc tế đến Tiền Giang +4,3
Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước +3,6
Chỉ số giá tiêu dùng (*) +0,95

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế năm 2019(xem chi tiết):

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 7,0 – 7,5% so với năm 2018;

- GRDP bình quân đầu người đạt 51,8 – 52,0 triệu đồng;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 3 tỷ USD;

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 34.500 – 34.700 tỷ đồng chiếm khoảng 37,5%/GRDP;

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 9.305 tỷ đồng;

- Tổng chi ngân sách địa phương 11.383 tỷ đồng;

- Chi đầu tư phát triển từ ngân sách 3.846 tỷ đồng;

- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 750 - 800 doanh nghiệp.

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 10
Truy cập: 584.419
User IP: 100.26.179.196

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn