Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

"CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG SỐNG VÀ LÀM VIỆC THEO HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT"

 

 

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2023
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Tháng 8 năm 2023
Thứ hai, Ngày 28 Tháng 8 Năm 2023

    I. SẢN XUẤT NÔNG LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

    1. Nông nghiệp

    Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 237 ha; sản lượng 107.775 tấn. Ước tính đến cuối tháng 8/2023, gieo trồng được 118.521 ha, đạt 90,3% kế hoạch, giảm 4,1% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 590.211 tấn, đạt 74,1% kế hoạch, giảm 7,1%; trong đó: cây lúa gieo sạ 116.510 ha, giảm 4,1%; thu hoạch 90.640 ha, giảm 6,5%; sản lượng 584.041 tấn, giảm 7,1%.

 

Hình 1. Cây lương thực có hạt tính đến 15/8/2023

    - Cây lúa:

    Vụ Hè Thu: diện tích gieo trồng chính thức 68.308 ha (vụ Xuân hè 22.878 ha và Hè thu 45.430 ha), đạt 100,4% kế hoạch, giảm 5,5% so cùng kỳ; diện tích thu hoạch 42.438 ha, giảm 11,2% với sản lượng 247.724 tấn, giảm 10,9%. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi đất trồng lúa sang: 2.996 ha đất cây lâu năm, 545 ha đất trồng cây hàng năm khác, 196 ha cắt vụ, 143 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..) và 76 ha đất nuôi trồng thủy sản. Giảm ở các huyện: TX Gò Công 164 ha, TX Cai Lậy 320 ha, Tân Phước 75 ha, Cái Bè 2.180 ha, Cai Lậy 820 ha, Châu Thành 136 ha, Chợ Gạo 34 ha, Gò Công Tây 227 ha.

    - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 237 ha; thu hoạch 265 ha với sản lượng 970 tấn. Đến nay gieo trồng được 2.011 ha, đạt 83,1% kế hoạch, giảm 6,1% so cùng kỳ; thu hoạch 1.700 ha, giảm 14,7%; năng suất bình quân đạt 36,3 tạ/ha, tăng 0,5% với sản lượng đạt 6.170 tấn, giảm 14,2% so cùng kỳ.

    Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng 6.590 ha; thu hoạch 6.072 ha với sản lượng 130.198 tấn. Đến nay gieo trồng được 47.679 ha, đạt 82,4% kế hoạch, giảm 2,1% so cùng kỳ; thu hoạch 42.874 ha, giảm 0,3%; sản lượng 905.341 tấn, đạt 73,3% kế hoạch, tăng 0,4% (trong đó: rau các loại 47.458 ha, giảm 2,1%; thu hoạch 42.677 ha, giảm 0,3% với sản lượng 904.749 tấn, tăng 0,4%).

    Chăn nuôi: ước thời điểm 01/8/2023 tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn bò 122,9 ngàn con, giảm 0,1% so cùng kỳ; đàn lợn 280 ngàn con, giảm 1,6%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16 triệu con, giảm 4,8%. Đàn bò giảm nhẹ; đàn lợn giảm do việc tái đàn còn chậm ảnh hưởng bởi chi phí chăn nuôi còn ở mức cao; đàn gia cầm giảm do tác động từ giá thức ăn tăng vọt, đầu ra sản phẩm chăn nuôi chậm, giá thành cao làm cho người chăn nuôi gia cầm gặp rất nhiều khó khăn.

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 01/8/2023

 

    * Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang

    Gia cầm: trong tháng ghi nhận 07 hộ có vịt mắc bệnh cúm gia cầm với tổng số vịt bệnh 7.660 con trên tổng đàn 10.300 con tại xã Nhị Bình, huyện Châu Thành, đã tiêu hủy 10.300 con. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 09 hộ mắc bệnh cúm gia cầm với tổng số gia cầm bệnh là 10.963 con trên tổng đàn 15.400 con tại 03 xã/03 huyện (Cai Lậy: 01 xã; Gò Công Tây: 01 xã; Châu Thành: 01 xã). Số gia cầm được tiêu hủy là 15.400 con.

    Gia súc:

    Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: tính từ ngày 14/12/2022 đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 07 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 179 con trên tổng đàn 270 con tại 06 xã/05 huyện (Cai Lậy: 01 xã; Tân Phước: 01 xã; Gò Công Tây: 02 xã; Gò Công Đông: 01 xã; Cái Bè: 01 xã). Số lợn được tiêu hủy dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là 215 con với trọng lượng 7.300 kg.

    Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng ghi nhận 08 trường hợp bò bệnh tại huyện Cái Bè, Gò Công Tây, Chợ Gạo, Tân Phú Đông, Châu Thành và thành phố Mỹ Tho với 11 con bò bệnh trên tổng đàn 41 con, đã tiêu hủy 03 con với khối lượng 419 kg. Tính từ ngày 14/12/2022 ghi nhận bò bệnh tại 06 huyện/10 xã/11 ấp/12 hộ với 17 con bò bệnh/tổng đàn 57 con; đã tiêu hủy 03 con với khối lượng 419 kg.

    2. Lâm nghiệp:

    Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là 1.740,5 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), cụ thể: 1.381,8 ha rừng phòng hộ và 358,7 ha rừng sản xuất.

    Trong tháng, thực hiện trồng mới cây phân tán được 74,2 ngàn cây. Nâng tổng số cây trồng từ đầu năm đến nay là 511,9 ngàn cây phân tán, tăng 0,9% so với cùng kỳ. Những cây trồng mới chủ yếu là cây bạch đàn, tràm bông vàng trên các tuyến đường nông thôn mới.

    3. Thủy hải sản:

    Diện tích nuôi thủy sản trong tháng đạt 514 ha. Tính chung 8 tháng năm 2023 đạt 14.758 ha, đạt 100% kế hoạch, tăng 3,2% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi tôm đạt 7.552 ha, tăng 6,3%; diện tích nuôi cá đạt 4.186 ha, tăng 0,1%; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.020 ha tương đương so cùng kỳ.

    Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 30.278 tấn. Tính chung 8 tháng năm 2023 đạt 183.312 tấn, giảm 16,5% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 118.941 tấn, tăng 0,9%; sản lượng khai thác 64.371 tấn, giảm 36,6%. Sản lượng thủy sản giảm chủ yếu ở khai thác thủy sản biển vẫn còn gặp nhiều khó khăn do thời tiết không thuận lợi, chi phí khai thác tăng (nhân công, xăng dầu).

    II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

    Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2023 giảm 0,82% so với tháng trước. Một số ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh giảm so với tháng tước như: Sản xuất chế biến thực phẩm; Dệt; Sản xuất kim loại; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu...; (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,33%, sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,03%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 15,18%) và tăng 4,64% so cùng kỳ. Các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh có chỉ số tăng so cùng kỳ như: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,05%, sản xuất đồ uống tăng 28,41%; sản xuất kim loại tăng 18,01%, ... (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,73%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,43%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,25%).

    Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng đầu năm 2023 tăng 2,6% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,52%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,21%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,72%.

 

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp

    Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 8 tháng so cùng kỳ như sau:

    - Có 21/41 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 99%; Các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác tăng 88%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 31,2%; Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 29,6%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 20,8%; Giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 19%; Phân vi sinh tăng 13,8%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 11,1%; …

    - Có 20/41 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 60,6%; Thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm giảm 50,4%; Thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng giảm 35,4%; Bóng thể thao khác giảm 30,2%; Dây thép không gỉ giảm 28,7%; Áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 25,1%; Túi xách giảm 23,3%; Màn bằng vải khác giảm 18%; Bao và túi (kể cả loại hình nón) từ plastic khác giảm 15,1%; Phi lê đông lạnh giảm 12,8%; Thức ăn cho thủy sản giảm 12,2%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo giảm 11,6%; …

    * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

    - Chỉ số tiêu thụ tháng 8/2023 so với tháng trước tăng 0,43% và giảm 1,35% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 8 năm 2023 giảm 7,96% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ như: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 14,14%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 13,11%; sản xuất đồ uống giảm 2,42%, trong đó sản xuất bia giảm 2,42%; sản xuất trang phục giảm 54,62%; sản xuất da giảm 17,9%, trong đó sản xuất giày dép giảm 14,23%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 11,54%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 49,54%; sản xuất thiết bị điện giảm 55,16%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện…giảm 72,39%… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: dệt tăng 6,61%, trong đó sản xuất sợi tăng 10,42%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 74,75%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 81,88%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 72,51%; sản xuất kim loại tăng 14,3%;…

    - Chỉ số tồn kho tháng 8/2023 so với tháng trước tăng 7,4% và tăng 1,1 lần so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm bằng gấp 2,1 lần, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 54,41%; sản xuất da tăng 55,17%, trong đó sản xuất giày dép tăng 58,83%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 9,95%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 72,49%; sản xuất kim loại bằng gấp 5,2 lần; chế biến, chế tạo khác tăng 67,72%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi tăng 67,72%;... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: dệt giảm 5,71%, trong đó sản xuất hàng may sẳn giảm 43,08%; sản xuất trang phục giảm 27,12%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 61,3%; sản xuất thiết bị điện giảm 66,65%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 69,24%;…

    III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

    Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 624 tỷ đồng, tăng 4,5% so cùng kỳ. Tám tháng đầu năm 2023 thực hiện 3.760 tỷ đồng, đạt 61,8% kế hoạch, tăng 39,8% so cùng kỳ. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý tăng do các sở, ban, ngành tỉnh và địa phương nâng cao trách nhiệm trong quản lý đầu tư xây dựng công trình cũng như đẩy nhanh tiến độ đồng thời huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển, thường xuyên kiểm tra giám sát nhằm tháo gỡ khó khăn tạo điều kiện thuận lơi đẩy mạnh đầu tư công. Ngày 13/7/2023 Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-HĐND Về việc bổ sung Kế hoạch đầu tư công tỉnh Tiền Giang năm 2023, trong đó bổ sung 816,154 tỷ đồng vào tổng vốn đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2023.

 

Hình 4. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý - 8 tháng năm 2023

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 3.098 tỷ đồng, đạt 59,8% kế hoạch, tăng 49,4% so cùng kỳ, chiếm 82,4% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 1.128 tỷ đồng, tăng 1,5 lần, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 1.202 tỷ đồng, tăng 18% so cùng kỳ... Trong tháng thời tiết thuận lợi, nguyên vật liệu trong xây dựng ổn định, Ngoài ra các ngành các cấp phối hợp với các chủ đầu tư khắc phục khó khăn đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình nhằm đạt và vượt kế hoạch đề ra, đến nay nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ.

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 416 tỷ đồng, đạt 77,3% kế hoạch, gảm 5,3% so cùng kỳ, chiếm 11,1% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 166 tỷ đồng, giảm 15% so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án huyện tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công, thực hiện trong kỳ chủ yếu là công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các công trình hạ tầng giao thông phục vụ ra mắt huyện nông thôn mới, các công trình cầu yếu trên các tuyền đường tỉnh huyện, an toàn giao thông, sửa chữa các công trình giao thông.

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 246 tỷ đồng, đạt 66,9% kế hoạch, tăng 40,2% so cùng kỳ, chiếm 6,5% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 133 tỷ đồng, tăng 17,7% so cùng kỳ... Các xã tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới năm 2023 nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân đồng thời hoàn thành tiêu chí để ra mắt xã nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, giáo dục, y tế, xây dựng nông thôn mới.

    IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ

    1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

    Trong tháng hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh ổn định, lượng hàng hóa dồi dào đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 7.024 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước và tăng 12,2% so cùng kỳ. Cụ thể một số nhóm hàng hóa chiếm tỉ trọng tăng so tháng trước như lương thực thực phẩm tăng 2,48%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,12%, xăng dầu tăng 3,79%,...

    Tám tháng đầu năm 2023, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 54.267 tỷ đồng, đạt 66,2% kế hoạch, tăng 13,4% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 42.216 tỷ đồng, tăng 12%; lưu trú 198 tỷ đồng, tăng 47,7%; ăn uống 4.478 tỷ đồng, tăng 26,7%; du lịch lữ hành 85 tỷ đồng, tăng 93,4%; dịch vụ tiêu dùng khác 7.289 tỷ đồng, tăng 12,7% so cùng kỳ.

Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

    2. Xuất - Nhập khẩu:

    a. Xuất khẩu:

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 423 triệu USD, giảm 1,4% so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 90 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 330 triệu USD. Tám tháng ước xuất khẩu 3.338 triệu USD, đạt 85,6% kế hoạch, tăng 22,2% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 23 triệu USD, tăng 392,5%; kinh tế ngoài nhà nước 733 triệu USD, tăng 48,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2.582 triệu USD, tăng 15,7% so cùng kỳ.

    Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như sau:

    - Thủy sản: ước tính tháng 8/2023 xuất 14.293 tấn với trị giá 57 triệu USD. Tám tháng xuất 129.256 tấn, tăng 71,6%; với trị giá xuất 396 triệu USD, đạt 99% kế hoạch, tăng 51,2% so cùng kỳ, nhu cầu tiêu thụ của 3 thị trường chính là Mỹ, EU và Trung Quốc có dấu hiệu tăng trở lại.

    - Gạo: ước tính tháng 8/2023 xuất 8.839 tấn với trị giá 5,2 triệu USD. Tám tháng xuất 129.150 tấn, tăng 79%; với trị giá xuất 75,4 triệu USD, đạt 150,8% kế hoạch, tăng 111,4% so cùng kỳ. Nguồn cung gạo toàn cầu vốn đang đối mặt với sự thiếu hụt lớn do ảnh hưởng bởi ElNino thì mới đây, Ấn Độ lại quyết định cấm xuất khẩu tất cả các loại gạo tẻ thường khiến thị trường gạo gặp cú sốc lớn. Bởi, Ấn Độ là nhà cung ứng gạo lớn nhất thế giới, chiếm hơn 40% sản lượng gạo xuất khẩu toàn cầu. Đáng chú ý, Thái Lan - quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới - cũng lo ngại sản lượng gạo trong năm nay có thể giảm vì nhiều vùng trồng lúa đối mặt tình trạng hạn hán, mất mùa. Giá gạo trên thế giới hiện đang ở mức cao nhất trong 11 năm qua. Nhiều quốc gia phụ thuộc lớn vào gạo Ấn Độ đang tìm nguồn thay thế đẩy giá gạo tăng từng ngày. Việt Nam đang nắm quyền chủ động trên thị trường gạo khi giá có thể tái lập mốc hiếm có năm 2008, tới 1.000 USD/tấn. Giá gạo 5% tấm của Việt Nam vừa qua cũng đạt đỉnh cao nhất trong 11 năm qua, trung bình 590 USD/tấn, tăng khoảng 80 USD so với tháng trước. Giá gạo xuất khẩu liên tục tăng cũng đẩy giá lúa thu mua trong nước tăng theo. Vì thế, ở một vài địa phương những ngày gần đây có hiện tượng mua gom lúa, gạo ồ ạt, gây mất cân đối cung - cầu cục bộ, đẩy giá gạo trong nước lên cao bất hợp lý, nhưng người được hưởng lợi chính không phải là nông dân mà phần lớn lại rơi vào các khâu trung gian, thương lái…

    - Hàng dệt, may: ước tính tháng 8/2023 xuất 7.267 ngàn sản phẩm với trị giá xuất 64,8 triệu USD. Tám tháng xuất 42.915 ngàn sản phẩm, giảm 30,1%; với trị giá xuất 468 triệu USD, đạt 75,5% kế hoạch, tăng 24% so cùng kỳ do thị trường chính xuất khẩu của ta tại Hoa Kỳ và EU lạm phát đã hạ nhiệt. Các doanh nghiệp may vẫn duy trì đơn hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ và EU nhưng chấp nhận đơn hàng với biên độ lợi nhuận thấp để duy trì sản lượng và giữ chân công nhân.

    - Kim loại thường và sản phẩm (kể cả đồng): ước tháng 8/2023 xuất 7.601 tấn với trị giá 74,5 triệu USD. Tám tháng xuất 75.713 tấn, tăng 19,1%; với trị giá xuất 741 triệu USD, tăng 9,9% so cùng kỳ.

    Ngoài các mặt hàng chủ yếu, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong 8 tháng đầu năm 2023 như: giày dép các loại 516 triệu USD, tăng 6,3%; sắt thép 243 triệu USD, gấp 3,5 lần; sản phẩm từ chất dẻo 144 triệu USD, giảm 18,3%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 145 triệu USD, giảm 19,7%... so cùng kỳ.

    b. Nhập khẩu:

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2023 ước 203 triệu USD, tăng 21,6% so tháng trước. Tám tháng, kim ngạch nhập khẩu 1.723 triệu USD, đạt 74,9% kế hoạch, tăng 7,9% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 102 triệu USD, tăng 18%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 1.621 triệu USD, tăng 7,3% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như kim loại thường khác 612 triệu USD, giảm 1,4%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 183 triệu USD, giảm 30,1%; vải các loại 145 triệu USD, giảm 1,3%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu 59 triệu USD, giảm 34,1%... so cùng kỳ.

    3. Chỉ số giá:

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2023 tăng 0,94% so tháng 7/2023 (thành th tăng 0,88%, nông thôn tăng 0,95%); so cùng kỳ tăng 2,27%.

    So với tháng 7/2023, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm tăng: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,78% (trong đó: Lương thực tăng 3,2%, thực phẩm tăng 0,38% và ăn uống ngoài gia đình tăng 0,45%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,23%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,18%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; giao thông tăng 4,65%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,11% và hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,29%. Có 01 nhóm giảm: Bưu chính viễn thông giảm 0,81%. Riêng nhóm hàng Giáo dục; nhóm Thuốc và dịch vụ y tế có chỉ số giá ổn định.

    Một số mặt hàng có chỉ số giá tăng so với tháng trước:

    - Giá lương thực tăng 3,2%, trong đó chỉ số giá nhóm gạo tẻ tăng 3,9% (gạo tẻ ngon tăng 4,01%; gạo tẻ thường tăng 3,9%; gạo nếp tăng 0,63%), làm CPI chung tăng 0,15 điểm phần trăm. Giá gạo trong nước và xuất khẩu  tăng mạnh do thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới tại Ấn độ tạm ngưng xuất khẩu đã tác động mạnh đến giá lương thực toàn cầu tăng lên. 

    - Giá thực phẩm tăng 0,38%, trong đó giá thịt lợn tăng 0,86%, thịt gà tăng 1,33%, thịt gia cầm khác tăng 1,53%, giá thuỷ hải sản tươi sống tăng 0,3%... nguyên nhân do mùa hè, lượng khách tham quan, du lịch tăng, dẫn đến tiêu dùng tăng lên.

    - Giá gas tăng 8,5%, từ ngày 01/8/2023, giá gas trong nước điều chỉnh tăng 26.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới tăng thêm 77,5 USD/tấn so với tháng 7/2023 (từ mức 388 USD/tấn tăng lên mức 465,5 USD/tấn); Giá dầu hỏa tăng 15,99%, tương ứng tăng 3.120 đồng/lít vào các ngày 01; 11 và ngày 21/8, tác động nhóm gas và chất đốt khác tăng 7,99%, làm CPI chung tăng 0,11 điểm phần trăm.

    - Giá xăng dầu tăng 9,48%, trong đó xăng A95-III tăng 1.810 đồng/lít, xăng E5 sinh học tăng 1.700 đồng/lít, dầu Diezen 0,05S tăng 2.850 đồng/lít vào các ngày 01; 11 và ngày 21/8, làm CPI chung tăng 0,42%.

    Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá giảm:

    - Giá điện sinh hoạt giảm 1,49%, giá nước sinh hoạt giảm 0,06% do tại tỉnh Tiền Giang có mưa, thời tiết mát mẽ hơn tháng trước nên nhu cầu sử dụng giảm, tác động giá giảm theo.

    - Bưu chính viễn thông giảm 0,8%, do kinh tế khó khăn người dân thắc chặt chi tiêu nên sức mua các dòng điện thoại cảm ứng giảm, dẫn đến các cửa hàng bán lẻ điện thoại giá cũng giảm theo.

    Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2023 so cùng kỳ tăng 2,04%; một số nhóm hàng có giá tăng trong 8 tháng năm 2023 so cùng kỳ như: nhóm Giáo dục tăng 7,81%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 8,28%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,09%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống 3,65%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,86%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,01%;…

    Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 8/2023 tăng 0,82% so tháng trước, giá bình quân tháng 08/2023 là 5.690 ngàn đồng/chỉ, tăng 373 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.

   Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 08/2023 tăng 0,56% so tháng trước, giá bình quân 23.920 đồng/USD, tăng 394 đồng/USD so cùng kỳ.

    4. Du lịch:        

    Khách du lịch đến trong tháng 8/2023 ước tính được 95 ngàn lượt khách, giảm 0,9% so tháng trước. do trong tháng học sinh các cấp học chuẩn bị đi học trở lại, vì vậy nhu cầu đi du lịch giảm so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 8 đạt 1.551 tỷ đồng, giảm 3,3% so tháng trước và tăng 2,9% so cùng kỳ.

    Tính chung tám tháng đầu năm 2023, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 754 ngàn lượt khách, đạt 60,3% kế hoạch và tăng 99,2% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 74 ngàn lượt khách, đạt 29,6% kế hoạch, tăng 6 lần so cùng kỳ. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 12.051 tỷ đồng, tăng 18,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống chiếm tỷ trọng 37,2%, ước đạt 4.478 tỷ đồng, tăng 26,7%; lưu trú đạt 198 tỷ đồng, tăng 47,7% so cùng kỳ...

    5. Vận tải:

    Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 215 tỷ đồng, tăng 8,2% so tháng trước và tăng 5,8% so cùng kỳ. Tám tháng thực hiện 1.606 tỷ đồng, tăng 13,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 424 tỷ đồng, tăng 18,1%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.018 tỷ đồng, tăng 11,6% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 661 tỷ đồng, tăng 13,2%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 781tỷ đồng, tăng 13,7%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 164 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ.

    Vận tải hành khách trong tháng đạt 1.390 ngàn hành khách, tăng 1,2% so tháng trước; luân chuyển 30.417 ngàn hành khách.km, tăng 1,1% so tháng trước. Tám tháng, vận chuyển 10.945 ngàn hành khách, tăng 14,1% so cùng kỳ; luân chuyển 244.665 ngàn hành khách.km, tăng 8,1% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 3.671 ngàn hành khách, tăng 12,7% và luân chuyển 236.929 ngàn hành khách.km, tăng 8,1 % so cùng kỳ; vận tải đường thủy 7.274 ngàn hành khách, tăng 14,8% và luân chuyển 7.736 ngàn hành khách.km, tăng 14,8% so cùng kỳ.

    Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.336 ngàn tấn, tăng 13,1% so tháng trước và tăng 5,9% so cùng kỳ; luân chuyển 248.058 ngàn tấn.km, tăng 14,3% so tháng trước và tăng 5,7% so cùng kỳ. Tám tháng, vận tải 9.768 ngàn tấn hàng hóa, tăng 13,5% so cùng kỳ; luân chuyển 1.870.958 ngàn tấn.km, tăng 14,5% so ùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.483 ngàn tấn, tăng 9,3% và luân chuyển 289.930 ngàn tấn.km, tăng 10,6% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 8.285 ngàn tấn, tăng 14,3% và luân chuyển 1.581.028 ngàn tấn.km, tăng 15,3% so cùng kỳ.

    * Công tác quản lý phương tiện giao thông:                        

    Trong tháng đăng ký mới 3.241 chiếc xe mô tô xe máy, 371 chiếc xe ô tô, 03 chiếc xe ba bánh, 04 chiếc xe đạp điện và 03 chiếc xe khác. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.470.530 chiếc, trong đó: mô tô xe máy 1.419.697 chiếc, 49.653 chiếc xe ô tô, 156 chiếc xe ba bánh, 447 chiếc xe đạp điện và 577 chiếc xe khác.

    6. Bưu chính viễn thông:

    Doanh thu trong tháng 8/2023 đạt 330 tỷ đồng, tương đương so tháng trước và tăng 3,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 34 tỷ đồng, tăng 19,7% và viễn thông 296 tỷ đồng, tăng 2,3% so tháng trước. Tám tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 2.615 tỷ đồng, tăng 4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 257 tỷ đồng, tăng 10,5% và viễn thông 2.358 tỷ đồng, tăng 3,4% so cùng kỳ.

    Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 8/2023 là 125.070 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,03 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 8/2023 là 377.099 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 21,19 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa dẫn đến khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 8/2023 là 1.474.198 thuê bao.

    V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

    1. Tài chính:

    Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trong tháng thực hiện 1.142 tỷ đồng; trong đó: thu nội địa 740 tỷ đồng, đạt 64% so dự toán và giảm 2,7% so cùng kỳ . Tám tháng, thu 6.541 tỷ đồng, đạt 63,6% kế hoạch, giảm 2,3% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa thực hiện 6.332 tỷ đồng, đạt 64% dự toán và giảm 2,7% so cùng kỳ; (trong thu nội địa: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.898 tỷ đồng, đạt 58,4% dự toán, giảm 6,39% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 755 tỷ đồng, đạt 65,7% dự toán, tăng 2,6% so cùng kỳ...).

    Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 1.179 tỷ đồng, tăng 27,4% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 390 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ. Tám tháng, chi 9.902 tỷ đồng, đạt 70,2% dự toán, tăng 13,5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 3.518 tỷ đồng, đạt 66,4% dự toán, tăng 20,7% so cùng kỳ; chi hành chính sự nghiệp 4.665 tỷ đồng, đạt 60,4% dự toán và tăng 2,9% so cùng kỳ.

    2. Ngân hàng:

    Đến cuối tháng 7/2023, vốn huy động đạt 92.625 tỷ đồng, tăng 4.888 tỷ đồng với tỷ lệ tăng 5,57% so với cuối năm 2022; tổng dư nợ toàn tỉnh đạt 89.894 tỷ đồng, tăng 3.873 tỷ, tỷ lệ tăng 4,5% so với cuối năm 2022. Bảy tháng đầu năm, hệ thống tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã đáp ứng nhu cầu vốn cho 816.724 lượt khách hàng vay vốn. Ước đến cuối tháng 8/2023, nguồn vốn huy động đạt 93.001tỷ đồng, tăng 5.264 tỷ, tăng 6% so với cuối năm 2022; tổng dư nợ đạt 90.116 tỷ đồng, tăng 4.095 tỷ đồng, tăng 4,76% so với cuối năm 2022.

    Với các biện pháp điều hành và chỉ đạo của ngân hàng nhà nước (NHNN) đến nay, về cơ bản mặt bằng lãi suất trên địa bàn tỉnh đã dần ổn định, lãi suất tiền gửi và cho vay mới có xu hướng giảm dần. Đến cuối tháng 7/2023 mặt bằng lãi suất cho vay bằng VNĐ trên địa bàn tỉnh phổ biến ở mức trên 4-9%/năm đối với ngắn hạn (chiếm 46,42% tổng dư nợ ngắn hạn VND); trên 11-13%/năm đối với trung dài hạn (chiếm 38,40% tổng dư nợ trung dài hạn VND); Các ngân hàng thương mại chấp hành nghiêm mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN.

    Nợ xấu: Đến cuối tháng 7/2023, nợ xấu là 1.542,5 tỷ đồng, tỷ lệ 1,72%, tăng 1,03% so với cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 8/2023, nợ xấu là 1.624 tỷ, tỷ lệ nợ xấu 1,8%, tăng 1,11% so với cuối năm 2022.

    Quỹ tín dụng nhân dân: Đến cuối tháng 7/2023, tổng nguồn vốn hoạt động thực hiện là 1.430 tỷ đồng, tăng 48 tỷ, tỷ lệ tăng 3,48% so với cuối năm 2022, trong đó vốn huy động tăng 3,19% chiếm tỷ trọng 86% trong tổng nguồn vốn hoạt động. Dư nợ cho vay đạt 1.066 tỷ đồng, tăng 27,7 tỷ, tỷ lệ tăng 2,67%; đáp ứng nhu cầu vốn cho 5.978 lượt thành viên vay vốn từ đầu năm đến nay; trong đó, dư nợ ngắn hạn tăng 2,67% chiếm tỷ trọng 45% tổng dư nợ. Nợ xấu là 4,57 tỷ đồng, giảm 2,4 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 0,43%, giảm 0,25% so với cuối năm 2022.

    VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

    Trong tháng, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét phê duyệt danh mục nhiệm vụ khoa học và công nghệ triển khai năm 2023-2024.

    Hội đồng nghiệm thu kết thúc 01 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp cơ sở; quyết định triển khai 01 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; quyết định công nhận 02 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở và gia hạn 01 nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở.

    Đến tháng 8/2023, thẩm định nội dung 06 nhiệm vụ KH&CN, trong đó 04 nhiệm vụ cấp tỉnh và 02 nhiệm vụ cấp cơ sở; quyết định triển khai 06 nhiệm vụ KH&CN, trong đó 05 nhiệm vụ cấp tỉnh, 01 nhiệm vụ cấp cơ sở; nghiệm thu kết thúc 12 nhiệm vụ KH&CN, trong đó 06 nhiệm vụ cấp tỉnh và 06 nhiệm vụ cấp cơ sở; quyết định công nhận 08 nhiệm vụ KH&CN, trong đó 04 nhiệm vụ cấp tỉnh, 04 nhiệm vụ cấp cơ sở; gia hạn 02 nhiệm vụ KH&CN (01 cấp tỉnh, 01 cấp cơ sở).

    VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

    1. Lao động việc làm:

    Trong tháng, tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 2.882 lượt lao động, tăng 44% so cùng kỳ, trong đó: tư vấn nghề cho 120 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 2.235 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 85 lượt lao động. Giới thiệu việc làm cho 459 lượt lao động, tăng 43% so cùng kỳ, trong đó 183 lao động có được việc làm ổn định, tăng 43% so cùng kỳ.

    Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 121 lượt lao động, tăng 70,4% so cùng kỳ; có 16 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 4,3 lần so cùng kỳ; có 33 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, qua các thị trường: Nhật Bản 32 lao động, Đài Loan 01 lao động; giảm 44 % so cùng kỳ.

    Tình hình lao động nghỉ việc, thất nghiệp: trong tháng, ghi nhận 2.535 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 67,4% so cùng kỳ; có 1.987 lao động được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 2,2% so cùng kỳ với tổng số tiền chi trả 39,1 tỷ đồng, giảm 2,4% so cùng kỳ; có 8.030 lượt lao động thất nghiệp được tư vấn, giới thiệu việc làm và có 01 lao động thất nghiệp đăng ký học nghề.

    2. Chính sách xã hội:

    Trong tháng, thực hiện Quyết định giải quyết chế độ mai táng phí và 03 tháng trợ cấp: 73 trường hợp; trợ cấp thờ cúng: 26 trường hợp; thu hồi thờ cúng: 01 trường hợp; chuyển thờ cúng: 72 trường hợp; giải quyết mai táng phí 1 lần: 28 trường hợp; mai táng phí tuất: 08 trường hợp; trợ cấp con liệt sĩ tàn tật: 05 trường hợp; hưởng thêm chế độ thương binh: 03 trường hợp; tăng tỷ lệ thương binh từ 21-23%: 01 trường hợp; chuyển trợ cấp thờ cúng liệt sĩ: 18 trường hợp.

    3. Hoạt động y tế:

    Trong tháng có 09/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc, có 11 bệnh tăng so cùng kỳ (Bệnh liên cầu lợn ở người, Bệnh do virut Adeno, Lao phổi, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, sởi, Tay – chân – miệng, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uốn ván khác, Viêm não virut khác); 05 bệnh giảm so cùng kỳ (Quai bị, Sốt xuất huyết Dengue, Viêm gan virut B, Viêm gan virut C, Covid - 19); 28 bệnh tương đương và hoặc không xảy ra ca mắc.

    Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết: trong tháng ghi nhận 251 ca, tính từ đầu năm 2023 đến nay ghi nhận 2.239 ca, giảm 39,6% so cùng kỳ.

    Phòng chống HIV/AIDS: tính đến nay, toàn tỉnh có 6.668 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 1.314 người.

    Tình hình khám chữa bệnh: tổng số lần khám bệnh 584.112 lượt người, tăng 68,7% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 17.457 lượt người, tăng 3,1% so cùng kỳ. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 63,8%.

    4. Hoạt động giáo dục:

    Ngày 15/8/2023, UBND tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định số 1899/QĐ-UBND về Kế hoạch thời gian năm học 2023-2024 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Theo đó cấp mầm non sẽ bắt đầu từ ngày 28/8/2023 đến ngày 04/9/2023; cấp tiểu học bắt đầu từ ngày 28/8/2023 (đối với khối lớp 1 bắt đầu từ ngày 21/8/2023); cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông bắt đầu từ ngày 28/8/2023; Các lớp 6, 7, 8, 10, 11 hệ giáo dục thường xuyên bắt đầu từ ngày 28/8/2023 và các lớp 9, 12 hệ giáo dục thường xuyên bắt đầu từ ngày 11/9/2023 đến ngày 17/9/2023.

    Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2023, toàn tỉnh có 15.455 thí sinh đăng ký dự thi và Tiền Giang có điểm thi tốt nghiệp THPT 2023 đứng thứ 13 so cả nước và hạng nhì (An Giang hạng nhất) các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long với điểm trung bình đạt 6,72. Trong đó, môn Ngữ Văn có 98,1% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 9,75; môn Toán có 89,8% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 9,8; môn Tiếng Anh có 57,7% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 10; môn Vật lý có 85,7% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 9,75; môn Hóa học có 92,5% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 10; môn Sinh học có 94,1% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 10; môn Lịch sử có 79,2% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 10; môn Địa lý có 91,4% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 9,5; môn GDCD có 99,8% bài thi đạt từ 5 điểm trở lên, điểm cao nhất 10. Kết quả tốt nghiệp THPT năm 2023 là 15.008 đạt tỉ lệ 99,67% sau phúc khảo.

    5. Hoạt động văn hóa - thể thao:

    Hoạt động bảo tàng: tổ chức về nguồn “Về đất Tiền Giang” của Hội Liên hiệp phụ nữ TP. HCM tại Khu di tích Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Trong tháng, Bảo tàng tỉnh và các di tích quốc gia đã dón 2.648 lượt khách.

    Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Thực hiện 04 buổi biểu diễn văn nghệ, tuyên truyền lưu động, chiếu phim phục vụ Nhân dân và các cuộc lễ. Thực hiện tuyên truyền 40 pano, 50 phướn và 4 lượt xe loa; 10 suất nhạc nước phục vụ Nhân dân tại quảng trường Hùng Vương.

    Hoạt động thư viện: tổ chức 10 cuộc hoạt động hè với chủ đề “ Hè vui đọc sách năm 2023” với 350 học sinh tham gia; 350 lượt bạn đọc và 525 lượt sách, báo lưu hành. Trong tháng, Thư viện đã phục vụ được 9.724 lượt bạn đọc, với 12.129 lượt sách báo được đưa ra lưu hành.

     Hoạt động thể dục – thể thao tiếp tục được duy trì và đạt được nhiều thành tích nổi bật, cụ thể như:

    - Đội Bóng đá tham dự Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2023; đạt 15 điểm, xếp hang 5/7 đội.

    - Đội Bóng đá U15 tham dự Vòng loại Giải Bóng đá VĐ U15 quốc gia năm 2023, từ ngày 10/7 – 03/8/2023 tại Bến Tre; đạt 6 điểm, xếp hạng 4/5 đội.

    - Đội Taekwondo tham dự Giải VĐ Taekwondo các lứa tuổi trẻ toàn quốc năm 2023, từ ngày 04/7 – 17/7/2023 tại Hà Nội; đạt 04 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc, 05 Huy chương Đồng.

    - Đội PencakSilat tham dự Giải VĐ PencakSilat trẻ quốc gia năm 2023, từ ngày 04/7 – 15/7/2023 tại Tuyên Quang; đạt 01 Huy chương Vàng.

    - Đội KickBoxing tham dự Giải VĐ KickBoxing trẻ toàn quốc năm 2023, từ ngày 04/7 – 15/7/2023 tại Hải Phòng; đạt 01 Huy chương Bạc, 05 Huy chương Đồng.

    - Đội Cử tạ tham dự Giải VĐ Cử tạ trẻ quốc gia năm 2023, từ ngày 08/7 – 16/7/2023 tại Đà Nẵng; đạt 02 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Bạc, 03 Huy chương Đồng.

    - Đội Boxing tham dự Giải VĐ Boxing trẻ quốc gia năm 2023, từ ngày 08/7 – 24/7/2023 tại Tp Hồ Chí Minh; đạt 01 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Bạc, 06 Huy chương Đồng.

    - Đội Rowing tham dự Giải Đua thuyền Rowing VĐ Trẻ quốc gia năm 2023, từ ngày 10/7 – 22/7/2023 tại Hà Nội; đạt 03 Huy chương Đồng

    - Đội Cầu lông tham dự Giải Cầu lông các cây vợt thiếu niên, trẻ xuất sắc quốc gia năm 2023, từ ngày 14/7 – 22/7/2023 tại Ninh Bình; đạt 01 Huy chương Đồng.

    - Đội Bóng bàn tham dự Giải VĐ Bóng bàn Trẻ, Thiếu niên, Nhi đồng quốc gia năm 2023, từ ngày 21/7 – 01/8/2023; đạt 06 Huy chương Đồng.

    - Đội Muay tham dự Giải VĐ Muay trẻ quốc gia năm 2023, từ ngày 20/7 - 30/7/2023; đạt 04 Huy chương Bạc, 01 Huy chương Đồng.

    - Đội KickBoxing tham dự Giải KickBoxing Đại hội thể thao Đồng Bằng Sông Cửu Long lần thứ IX – Hậu Giang năm 2023, từ ngày 24/7 – 30/7/2023 tại Hậu Giang; đạt 05 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc, 05 Huy chương Đồng.

    - Đội Taekwondo tham dự Giải Taekwondo Đại hội thể thao Đồng Bằng Sông Cửu Long lần thứ IX – Hậu Giang năm 2023 từ ngày 31/7 – 07/8/2023 tại An Giang; đạt 01 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc, 04 Huy chương Đồng.

    - Đội Boxing tham dự Giải Boxing Đại hội thể thao Đồng Bằng Sông Cửu Long lần thứ IX – Hậu Giang năm 2023, từ ngày 31/7 – 06/8/2023 tại Hậu Giang; đạt 06 Huy chương Vàng, 10 Huy chương Bạc, 06 Huy chương Đồng.

    - Đội Điền kinh tham dự Giải VĐ Điền kinh trẻ quốc gia năm 2023, từ ngày 01/8 – 12/8/2023 tại Đà Nẵng; đạt 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Đồng.

    - Tham dự Giải Võ Cổ truyền Đại hội thể thao Đồng Bằng Sông Cửu Long lần thứ IX – Hậu Giang năm 2023, từ ngày 07/8 – 13/8/2023 tại An Giang; đạt 06 Huy chương Vàng, 09 Huy chương Bạc, 06 Huy chương Đồng.

    - Tham dự Giải Thể hình Đại hội thể thao Đồng Bằng Sông Cửu Long lần thứ IX – Hậu Giang năm 2023, từ ngày 08/8 – 13/8/2023 tại Cà Mau; đạt 01 Huy chương Vàng.

    6. Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội (Theo báo cáo của ngành Công an):

    Tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội trong tháng được đảm bảo. Tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 86 vụ, tăng 25 vụ so với tháng 7/2023, giảm 06 vụ so với tháng 8/2022, làm chết 01 người, bị thương 21 người, tài sản thiệt hại trên 1,3 tỷ đồng; điều tra khám phá 70 vụ (đạt 81,4%), bắt xử lý 144 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 174 triệu đồng.

    Tội phạm, vi phạm pháp luật về ma túy: phát hiện, xử lý 19 vụ, 21 đối tượng phạm tội về ma túy, xử lý vi phạm hành chính 336 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

    7. Trật tự an toàn giao thông (Theo báo cáo của ngành Công an):

    Tai nạn giao thông đường bộ: Tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 27 vụ, giảm 01 vụ so tháng trước và tăng 02 vụ so cùng kỳ; làm chết 19 người, giảm 06 người so tháng trước và tăng 04 người so cùng kỳ; làm bị thương 13 người, tăng 07 người so tháng trước và giảm 03 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ từ đầu năm đến nay 165 vụ, giảm 91 vụ; làm chết 121 người, giảm 59 vụ và bị thương 84 người, giảm 38 vụ. Nguyên nhân gây nên tai nạn giao thông: không làm chủ tốc độ 01 vụ; uống rượu say 03 vụ; đi không đúng phần đường, làn đường 02 vụ; không nhường đường 01 vụ; vượt không đảm bảo an toàn 01 vụ; đang điều tra 06 vụ và nguyên nhân khác 13 vụ…

    Tai nạn giao thông đường thủy: Trong tháng không xảy ra vụ tai nạn, giảm 02 vụ so tháng trước và giảm 01 vụ so cùng kỳ, không có người chết và người bị thương.

    8. Tình hình cháy nổ, môi trường:

    Trong tháng 8 năm 2023, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 01 vụ cháy phương tiện giao thông, tài sản thiệt hại khoảng 800 triệu đồng; nguyên nhân xác định ban đầu do sự cố điện. Nâng tổng số vụ cháy từ đầu năm đến nay là 09 vụ, tài sản thiệt hại khoảng 11 tỷ đồng.

    Lĩnh vực môi trường trong tháng, không xảy ra vụ vi phạm trên địa bàn. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 11 vụ, giảm 01 vụ so với cùng kỳ.

    Tình hình thiên tai trong tháng, ghi nhận 05 cơn lốc xoáy ở huyện Cái Bè, huyện Cai Lậy, huyện Chợ Gạo và thị xã Cai Lậy, làm hư 29 căn nhà, gồm 03 căn nhà bị sập (huyện Cai Lậy: 01 căn và huyện Cái Bè: 02 căn) và tốc mái 26 căn nhà (huyện Cái Bè: 17 căn, huyện Cai Lậy: 05 căn, thị xã Cai Lậy: 01 căn và huyện Chợ Gạo: 03 căn); làm ngã đổ 2.156 cây ăn trái, gãy đỗ 01 trụ điện hạ thế (huyện Cái Bè), giá trị thiệt hại khoảng 5,5 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 15 cơn lốc xoáy, giảm 02 cơn lốc, tổng giá trị thiệt hại khoảng 83,6 tỷ đồng.

Sl ước tháng 8 năm 2023

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 29)
Trang:1 - 2 - 3Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 02 năm 2024 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2023 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*)

-18,0

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

+8,9

Khách quốc tế đến Tiền Giang

+25,9

Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước

-12,3

Chỉ số giá tiêu dùng (*)

+1,05

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2024 (xem chi tiết):

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 7,0 – 7,5% so với năm 2023;

- Cơ cấu kinh tế: khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 35,1%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,6%, khu vực dịch vụ (bao gồm thuế sản phẩm) chiếm 35,3%.

- GRDP bình quân đầu người đạt 75,8 - 76,2 triệu đồng/người/năm;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỷ USD;

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 50.400 – 50.650 tỷ đồng;

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 8.801 tỷ đồng;

- Tổng chi ngân sách địa phương 14.456 tỷ đồng;

- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 890 doanh nghiệp.

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 18
Truy cập: 1.890.012
Truy cập tháng: 46.215
User IP: 35.175.201.191

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn