Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2019
Tăng trưởng kinh tế Tiền Giang năm 2019 đạt 6,64 %
Chủ nhật, Ngày 29 Tháng 12 Năm 2019

    Phát triển kinh tế của tỉnh trong năm 2019 có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn như: kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, cạnh tranh địa vị chính trị, kinh tế của các nước; chiến tranh thương mại Mỹ - Trung; giá cả thế giới biến động mạnh; tình hình khu vực, Biển Đông diễn biến phức tạp… Trong nước và trên địa bàn tỉnh chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, thiên tai, sạt lở bờ sông, bờ biển ngày càng nghiêm trọng, Dịch tả lợn Châu Phi diễn ra trên diện rộng…ảnh hưởng lớn đến sản xuất, kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong những tháng cuối năm giá cả một số mặt hàng tiêu dùng tăng, ảnh hưởng đến đời sống người dân.

    Với quyết tâm cao trong chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân tỉnh, sự đồng lòng, phấn đấu vượt qua khó khăn của các cơ sở kinh tế và nhân dân trong tỉnh, tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2019 tăng khá, 6 tháng đầu năm tăng 6,02%, 6 tháng cuối năm tăng 7,21%, tính chung cả năm tăng 6,64% so với năm 2018. So với tốc độ tăng trưởng các tỉnh trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long thì Tiền Giang đứng thứ 06 so với 13 tỉnh trong khu vực.

    Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2019 ước đạt 60.094 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2010) tăng 6,64% so với năm 2018, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,50%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,23% và khu vực dịch vụ tăng 7,32 % (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 6,40 % và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 11,93% so cùng kỳ.

    Trong 6,64% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 20,2%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 42,7%, khu vực dịch vụ đóng góp 27,0% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm là 10,1%.

    Mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2015-2020 của tỉnh là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Năm 2019 tỷ trọng  khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 38,8% (kế hoạch 37,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 27,2 % (kế hoạch 30,0%); khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 34% (kế hoạch 32,8%). So với năm 2018 tỷ trọng trong GRDP của khu vực nông lâm và thủy sản giảm 0,4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 0,7%, khu vực dịch vụ giảm 0,5% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 0,2% so cùng kỳ.

    GRDP nếu tính theo giá thực tế năm 2019 ước đạt 98.392 tỷ đồng; tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt 55,7 triệu đồng/người/năm, tăng 5,1 triệu đồng so với năm 2018 (năm 2018 đạt 50,6 triệu đồng). Tính theo giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2019 đạt 2.392 USD/người/năm, tăng 8,8%, tương đương tăng 193 USD so năm 2018 (năm 2018 đạt 2.199 USD/người/năm).

    Nếu so với các tỉnh trong Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, GRDP bình quân đầu người năm 2019 của Tiền Giang cao hơn bình quân chung của Vùng 1,8 triệu đồng/người/năm (bình quân của vùng 53,9 triệu đồng/người/năm); đứng thứ 05/13 trong khu vực.

    Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: 6 tháng đầu năm tăng 2,88%, 6 tháng cuối năm tăng 4,12%, cả năm tăng 3,50%  so với năm 2018, tăng thấp hơn cùng kỳ 0,81%. Trồng trọt trong kỳ tương đối thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được đảm bảo, không chịu tác động nhiều của hạn, mặn như các năm trước. Sản lượng, chất lượng nông sản từng bước được nâng cao, đề án chuyển dịch cơ cấu cây trồng có nhiều chuyển biến tích cực, đề án vùng sản xuất lúa ứng dụng công nghệ cao tiếp tục được triển khai mở rộng. Tuy nhiên giá cả đầu ra các sản phẩm nông sản chưa ổn định, có lúc giá rất cao nhưng ở một số thời điểm lại khó tiêu thụ. Giá lúa bình quân trong năm thấp hơn so cùng kỳ, nông dân lãi không nhiều. Do đó nông dân ở một số huyện phía Tây đã chuyển từ đất trồng lúa sang trồng cây ăn quả, cộng với việc chuyển đất lúa sang trồng màu, thực hiện các công trình giao thông ... làm cho diện tích gieo trồng lúa trong năm giảm, chỉ bằng 91,5% so cùng kỳ (tương ứng giảm 17.029 ha). Trong lĩnh vực chăn nuôi còn nhiều khó khăn, nhất là chăn nuôi lợn. Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi lây lang rất nhanh và xảy ra trên diện rộng, mặc dù địa phương có nhiều giải pháp quyết liệt trong phòng, chống dịch. Ngày 31/5/2019 phát hiện trường hợp heo bị nhiễm đầu tiên trên địa bàn tỉnh thì đến thời điểm 13/12/2019 có 6.347 hộ có heo mắc bệnh với tổng đàn 183.470 con. Ước tính đến cuối năm tổng đàn heo của tỉnh đạt 343.781 con, giảm 27,8% so cùng kỳ (giảm 132.127 con). Do nuôi lợn khó khăn nên nông dân chuyển sang chăn nuôi gia cầm, chủ yếu nuôi gà; tổng đàn gia cầm ước tính đến cuối năm đạt 15.509 ngàn con, tăng 5,6% so cùng kỳ (tương ứng tăng 825 ngàn con). Ngành thủy sản trong năm có nhiều thuận lợi, sản lượng khai thác và nuôi trồng đều tăng so cùng kỳ, tăng mạnh ở thủy sản khai thác do phương tiện đánh bắt được đầu tư và ngư trường có nhiều cá, ngư dân trúng mùa.

    Khu vực công nghiệp vả xây dựng: sáu tháng đầu năm tăng trưởng  9,77%, 6 tháng cuối năm tăng 10,63%, cả năm tăng 10,23% so năm 2018, trong đó công nghiệp tăng 10,45% (năm 2018 tăng 12,99%). Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp của tỉnh trong những năm gần đây có chậm lại so với trước. Công nghiệp của tỉnh chủ yếu là công nghiệp chế biến, tập trung ở một số lĩnh vực như: may mặc, giày da, thủy sản, thức ăn gia súc ... công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ còn rất ít. Trong thời gian qua các mặt hàng thủy sản, may mặc, giày da xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với các nước, áp thuế chống bán phá giá, chất lượng sản phẩm được kiểm tra nghiêm ngặt... Do đó các đơn vị sản xuất trong lĩnh vực này đầu tư mới và mở rộng sản xuất chưa nhiều, phần nào ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp. Để duy trì tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp, trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác xúc tiến, thu hút đầu tư, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao; tỷ lệ thuê đất ở các Khu công nghiệp của tỉnh đến thời điểm tại đạt 71,9% (544,2 ha/765,2 ha). Tốc độ tăng trưởng của ngành xây dựng năm 2019 tăng 8,77% so cùng kỳ; hồ sơ thủ tục đầu tư tuy đã đi vào nề nếp, tiến độ thực hiện có nhanh hơn các năm trước nhưng vẫn còn chậm, thời gian thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị thực hiện dự án như: lập, thẩm định và phê duyệt hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và dự toán công trình, đền bù giải phóng mặt bằng... thường kéo dài. Trên địa bàn tỉnh hiện tại có công trình qui mô lớn là tuyến cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận, nhưng gặp khó khăn về vốn nên các nhà thầu chỉ hoạt động cầm chừng. Vừa qua Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành đã có cuộc khảo sát và làm việc với lãnh đạo địa phương, đưa ra nhiều giải pháp đẩy nhanh tiến độ thi công để kịp hoàn thành đưa vào khai thác cuối năm 2020.

    Khu vực dịch vụ: tăng 6,40 %, hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng so với cùng kỳ. Các cơ sở kinh doanh, dịch vụ liên tục đổi mới phương thức kinh doanh, đưa ra các hình thức khuyến mãi kích thích người tiêu dùng. Sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn tỉnh ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân; các của hàng bán rau sạch, sản phẩm chất lượng xuất hiện ngày càng nhiều, đặt biệt trong quý III với sự xuất hiện của hệ thống cửa hàng Bách hóa xanh, Vinmart ... thuận tiện cho người dân trong việc mua sắm, đã góp phần làm cho khu vực này tăng so cùng kỳ. Tuy nhiên việc đầu tư cơ sở tầng phát triển du lịch còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu. Các điểm tham quan du lịch thì na ná các tỉnh bạn, chưa tạo, kích thích du khách quay lại lần sau. Với mục tiêu thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ, trong năm 2019 tỉnh Tiền Giang đã tổ chức nhiều hoạt động vui chơi giải trí phục vụ nhân dân tỉnh nhà, đồng thời quảng bá hình ảnh Tiền Giang đến với các tỉnh bạn và du khách quốc tế.

    Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm năm 2019 tăng 11,93$ so với năm 2018.

                                                                                                       N.V.Tròn

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 19)
Trang:1 - 2Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 01 năm 2020 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2019 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*) -5,3
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng +12
Trị giá xuất khẩu -30,6
Trị giá nhập khẩu +61,5
Khách quốc tế đến Tiền Giang +10
Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước +7,2
Chỉ số giá tiêu dùng (*) +0,92

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2020(xem chi tiết):

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 7,0 - 7,5% so với năm 2019;

- GRDP bình quân đầu người đạt 55,3 triệu đồng;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 3,4 tỷ USD;

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 37.300 tỷ đồng chiếm khoảng 38%/GRDP;

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 11.125 tỷ đồng;

- Tổng chi ngân sách địa phương 13.761,6 tỷ đồng; trong đó, chi đầu tư phát triển 4.505 tỷ đồng;

- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt từ 650 - 700 doanh nghiệp.

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 12
Truy cập: 590.101
User IP: 3.94.202.172

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn