Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

"CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG SỐNG VÀ LÀM VIỆC THEO HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT"

 

 

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2023
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang năm 2023
Thứ năm, Ngày 28 Tháng 12 Năm 2023

    Năm 2023, tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, nguy cơ mất thanh khoản, bất ổn về tài chính, tiền tệ, nợ công, an ninh năng lượng, lương thực, trên toàn cầu gia tăng. Kinh tế thế giới tiếp tục trải qua thời kỳ khó khăn, bất định khi chiến sự Israel - Hamas xảy ra có nguy cơ lan rộng, khủng hoảng Nga - Ukraine leo thang sang giai đoạn mới… đã tác động, ảnh hưởng mạnh đến các hoạt động kinh tế, đầu tư, tiêu dùng toàn cầu, trong đó có nước ta. Trên địa bàn tỉnh, tình hình sản xuất, kinh doanh cũng gặp nhiều khó khăn, nhất là trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Một số thị trường lớn, truyền thống bị thu hẹp, nhiều doanh nghiệp thiếu đơn hàng, giảm sản lượng, lao động bị mất việc, thôi việc, giảm giờ làm, tạm hoãn hợp đồng lao động hoặc nghỉ việc không hưởng lương, đời sống một bộ phận người dân gặp khó khăn.

    Trước những khó khăn, thách thức nêu trên, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, thực hiện nghiêm túc các giải pháp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đồng thời đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh, sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tăng trưởng dần rõ nét hơn qua từng quý, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước và đạt được kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.

    I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ

    1. Tăng trưởng kinh tế

    Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2023 ước đạt 66.316 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010) tăng 5,72%([1]) so với năm 2022, quý I tăng 2,9%, quý II tăng 4,36%, quý III tăng 7,27% và quý IV tăng 8,12%; khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,14%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,57% và khu vực dịch vụ tăng 6,64% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 6,96% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,99% so cùng kỳ.

    Năm 2023 do tác động của cuộc chiến giữa Nga và Ucraina làm cho giá nhiên liệu tăng, lạm phát tăng cao, kinh tế thế giới khó khăn, nhu cầu tiêu dùng giảm, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thiếu đơn hàng để sản xuất, công nhân thiếu việc làm... nên tăng trưởng kinh tế của tỉnh năm 2023 tăng thấp hơn 1,32% so cùng kỳ. Phát triển kinh tế của tỉnh trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều yếu tố không thuận lợi, nhưng đạt được kết quả trên là sự nổ lực rất lớn của lãnh đạo tỉnh trong việc chỉ đạo, điều hành và đề ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn của tỉnh.

    Trong 5,72% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 1,48%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 1,89%, khu vực dịch vụ đóng góp 2,06%.

    GRDP năm 2023 tính theo giá hiện hành đạt: 123.048 tỷ đồng, tăng 9,35% so cùng kỳ (tương đương tăng 10.518 tỷ đồng); GRDP bình quân đầu người năm 2023 đạt 68,7 triệu đồng/người/năm([2]), tăng 5,7 triệu đồng/người/năm so năm 2022 (năm 2022 đạt 63 triệu đồng/người/năm). Tính theo giá USD, GRDP bình quân đầu người năm 2023 đạt 2.867 USD/người/năm, tăng 6,9%, tương đương tăng 186 USD so năm 2022 (năm 2022 đạt 2.681 USD/người/năm).

    Tốc độ tăng trưởng trên các lĩnh vực như sau:

    1.1. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (Kế hoạch 2023 tăng 3,5-3,8%): tăng 4,14% so năm 2022; tăng cao hơn 0,6% so với năm 2022; trong đó:

    Ngành nông nghiệp tăng 5,44% tăng cao hơn so với cùng cùng kỳ 1,72%. Trồng trọt có nhiều thuận lợi, công tác phòng chống hạn mặn được triển khai sớm, độ mặn năm nay thấp, không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp; Dịch covid-19 được kiểm soát, xuất khẩu nông sản thông thoáng trở lại nên giá bán các loại sản phẩm trồng trọt tăng so cùng kỳ nông dân tích cực dầu tư, chăm sóc. Cụ thể là mặt hàng xuất khẩu gạo, đây là năm cho thấy sự trỗi dậy mạnh mẽ sau nhiều năm gặp khó khăn. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi theo hướng nâng cao giá trị sản phẩm đã nông dân tập trung đầu tư, theo đúng định hướng của tỉnh. Xu hướng chuyển dịch diện tích trồng cây hàng năm sang trồng cây lâu năm. Tổng diện tích trồng cây lâu năm của tỉnh ước tính đến cuối năm 2023 đạt 107.564 ha, tăng 2,5% so với năm 2022, (tương ứng tăng 2.624 ha). Diện tích tăng tập trung ở một số loại cây như: khóm, dừa, sầu riêng;... đặc biệt, diện tích trồng sầu riêng của tỉnh tăng nhanh, ước tính đến cuối năm 2023 diện tích trồng đạt 21.790 ha, tăng 23,4% so cùng kỳ. Lợi nhuận tăng do giá bán các sản phẩm trồng trọt trong năm tăng, đã kích thích nông dân tập trung đầu tư nên ngành nông nghiệp có tốc độ tăng khá so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lúa năm 2023 đạt 129.389 ha, giảm 4% so cùng kỳ do nông dân chuyển sang gieo trồng các loại cây khác, xây dựng nhà, các cơ sở hạ tầng,... Nhìn chung trà lúa năm nay phát triển tốt, tuy nhiên có một số vùng nông dân trồng lúa đan xen với trồng cây ăn quả nên ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch, tổng sản lượng thu hoạch năm 2023 đạt 789.904 tấn, giảm 5,9% so cùng kỳ.

    Trong lĩnh vực chăn nuôi, giá bán các sản phẩm bình quân 6 tháng đầu năm thấp so cùng kỳ, trong khi giá thức ăn tăng cao, người nuôi không có lãi, nên việc tái đàn trên địa bàn tỉnh còn chậm. Từ cuối tháng 6 đến nay giá bán các sản phẩm chăn nuôi có tăng, đảm bảo người nuôi có lãi, nên tổng đàn tăng. Ước tính đến cuối năm tổng đàn so cùng kỳ năm trước: đàn bò đạt 122 ngàn con, tăng 5%; đàn lợn 300 ngàn con, tăng 2,5%; đàn gia cầm 16,3 triệu con, tăng 0,5%. Tuy nhiên bệnh dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn xuất hiện ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh đã và đang gây tâm lý lo lắng cho người nuôi và cả người tiêu dùng.

    Ngành thủy sản giảm 2,14% so cùng kỳ, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 310.556 tấn, giảm 11% so cùng kỳ. Hoạt động thủy sản giảm chủ yếu ở khai thác thủy sản: sản lượng nuôi trồng đạt 211.489 tấn, tăng 0,2%, nhưng sản lượng thủy sản khai thác chỉ đạt 99.077 tấn, giảm 28,1%. Hoạt động khai thác thủy sản còn nhiều khó khăn do giá nhiên liệu tăng cao, biển động liên tục, gió nhiều, sóng lớn nên các đội tàu gặp khó khăn trong quá trình đánh bắt, sản lượng khai thác ít, số lượng tàu ra khơi đánh bắt ít hơn cùng kỳ, làm cho sản lượng thủy sản khai thác giảm, tuy nhiên cơ cấu sản phẩm khai thác thay đổi theo hướng tăng sản phẩm có giá trị nên tốc độ tăng trưởng ngành thủy sản giảm ít

    1.2. Khu vực công nghiệp - xây dựng (Kế hoạch tăng từ 11,5-12%): tăng 6,57% so với năm 2022 (quý I tăng 3,68%, quý II tăng 3,79%, quý III tăng 8,33%, quý IV tăng 10,36); tăng thấp hơn năm 2022 là 4,4%.

    Ngành Công nghiệp tăng 5,07% so với năm 2022 (cùng kỳ tăng 11,27%). Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh còn nhiều khó khăn trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm do đơn hàng giảm từ quý IV/2022 cho đến nay, nhất là các ngành may mặc, giày da, túi xách, chế biến thủy sản... do tác động của hậu dịch Covid-9, kinh tế thế giới suy giảm, cuộc chiến giữa Nga và Ukraine làm cho giá nhiên liệu tăng, lạm phát tăng cao. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong công nghiệp như có chỉ số giảm hoặc tăng thấp so cùng kỳ như: Sản xuất trang phục chiếm tỷ trọng 12%, giảm 20,47%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn chiếm tỷ trọng 1,74%, giảm 34,12%; sản xuất chế biến thực phẩm chiếm tỷ trọng 30,07%, giảm 0,24%... bên cạnh đó, một số ngành tăng khá so cùng kỳ kìm hãm tốc độ giảm như: sản xuất kim loại chiếm tỷ trọng 21,48%, tăng 19,86% so cùng; sản xuất sản phẩm từ cao su và lastic chiếm tỷ trọng 6,51%, tăng 14,66% so cùng kỳ... và trong năm cũng có một số doanh nghiệp mới đi vào hoạt động, trong đó có nhà máy điện gió Tân Phú Đông 1 đi vào hoạt động từ ngày 31/5/2023, nên công nghiệp của tỉnh vẫn duy trì được tốc độ tăng, có dấu hiệu phục hồi, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, 6 tháng đầu năm chỉ tăng ở mức 2,78%, đến quý III tăng 6,27% và quý IV tăng 8,75%.

    Ngành xây dựng tăng 13,88% (cùng kỳ tăng 9,6%), là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt nhất trong năm 2023. Tỉnh chú trọng giao vốn sớm cho các chủ đầu tư ngay từ tháng 12 năm 2022 và thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện của các dự án, nhất là các dự án thuộc Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội. Trên địa bàn tỉnh có nhiều công trình trọng điểm của địa phương và trung ương đang được triển khai thi công, cộng với sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ đầu tư công nhất là các công trình của huyện Châu Thành và huyện Cái Bè kịp thời cho huyện nông thôn mới đã góp phần làm cho hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng khá so cùng kỳ.

    1.3. Khu vực dịch vụ (Kế hoạch tăng từ 7,0-7,5%): tăng 6,64% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 6,96% so cùng kỳ. Hoạt động thương mại và dịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng; Hầu hết các ngành trong khu vực này đều tăng, các ngành dịch vụ đã trở lại trạng thái hoạt động bình thường sau dịch covid-19, giá cả trong năm được kiểm soát tốt, không xảy ra tình trạng nâng giá bất hợp lý, hàng hóa dồi dào, đáp nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Một số ngành tăng khá như: bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy tăng 9,27%; Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,38%; Vận tải kho bãi tăng 10,72%; Hoạt động dịch vụ khác tăng 24,06%... thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,99% so cùng kỳ.

    1.4. Cơ cấu kinh tế:

    Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 37,1% (cùng kỳ 37,2%); khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 27,5% (cùng kỳ 28%); khu vực dịch vụ chiếm 29,8% (cùng kỳ 29,2%); Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,6% tương đương so cùng kỳ.

    2. Tài chính - Ngân hàng

    a. Tài chính:

    - Thu ngân sách nhà nước: năm 2023 ước thu ngân sách nhà nước trên địa bàn được 10.182 tỷ đồng, giảm 6,5% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa 9.888 tỷ đồng, đạt 100% dự toán, giảm 5,8% so cùng kỳ.

    Một số khoản thu đạt và vượt so với dự toán năm, cụ thể: Thu từ doanh nghiệp nhà nước là 263 tỷ đồng, đạt 100,2% dự toán năm; thu từ khu vực công thương nghiệp - ngoài quốc doanh là 1.245 tỷ đồng, đạt 108,3% ; thu tiền sử dụng đất là 1.000 tỷ đồng, đạt 100%; ...

    Có 10/11 huyện, thành thị có tỷ lệ thu cả năm vượt dự toán, các đơn vị đạt cao như: Thị xã Gò Công là 247 tỷ đồng, đạt 217,2%; huyện Gò Công Tây 154 tỷ đồng, đạt 206%; huyện Chợ Gạo 193 tỷ đồng, đạt 195,9%;... Riêng Thành phố Mỹ Tho đạt 98,8%.

    - Chi ngân sách nhà nước: Năm 2023 ước chi 19.755 tỷ đồng, đạt 140% dự toán, tăng 5,8% so cùng kỳ. Kết quả thực hiện chi ngân sách địa phương năm 2023 đã đáp ứng được yêu cầu hoạt động của các đơn vị, địa phương. Trong đó, chi đầu tư phát triển là 5.395 tỷ đồng, đạt 101,9% dự toán năm, tăng 11,7% so cùng kỳ; Chi thường xuyên là 8.601 tỷ đồng, đạt 102,3% so với dự toán, tăng 4,9% so với cùng kỳ.

    b. Ngân hàng:

    Ngành Ngân hàng trên địa bàn tỉnh tập trung mọi nguồn lực đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn, góp phần tích cực vào phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

    - Về huy động vốn: đến cuối tháng 10/2023, tổng vốn huy động 94.067 tỷ đồng, đạt 99,3% kế hoạch; tăng 6.331 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cuối năm trước, tốc độ tăng bình quân là 0,64%/ tháng. Ước đến cuối năm 2023, đạt 96.147 tỷ đồng, tăng 8.410 tỷ, tỷ lệ tăng 9,59% so với cuối năm 2022, đạt 101,47% kế hoạch năm 2023.

    - Về dư nợ: Đến cuối tháng 10/2023, tổng dư nợ trên địa bàn tỉnh đạt 92.267 tỷ, tăng 6.246 tỷ, tăng 7,3% so với cuối năm 2022, bình quân tăng 0,71%/tháng. Ước đến cuối năm 2023, dư nợ toàn tỉnh thực hiện 93.749 tỷ đồng, tăng 7.728 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 8,98% so với cuối năm 2022, đạt 95,60% kế hoạch năm 2023.

   - Nợ xấu: đến cuối tháng 10/2023, nợ xấu là 1.704,1 tỷ đồng, tỷ lệ là 0,85% trên tổng dư nợ, tăng 1,16% so cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 12/2023, nợ xấu là 1.612 tỷ đồng, tỷ lệ 1,7%, tăng 1,01% so với cuối năm 2022. Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng nợ xấu ở mức thấp, nằm trong sự kiểm soát.

    - Quỹ tín dụng nhân dân: hoạt động ổn định, các chỉ tiêu điều đạt mức tăng trưởng. Tổng nguồn vốn huy động đến cuối tháng 11/2023 là 1.483 tỷ đồng, tăng 7,29% so với cuối năm 2022. Tổng dư nợ cho vay 1.109 tỷ đồng, tăng 6,71% so với đầu năm; tỷ lệ nợ xấu 0,43%, giảm 0,24% so đầu năm.

    3. Giá, lạm phát

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2023 tăng 0,15% so tháng 11/2023 (thành thị tăng 0,14%, nông thôn tăng 0,16%); so cùng kỳ tăng 3,99%. Bình quân năm 2023 so cùng kỳ tăng 2,6%; như vậy, địa phương kiểm soát tốt lạm phát dưới 4%, bình quân 1 tháng CPI tăng 0,22%.

     4. Đầu tư và Xây dựng

    Năm 2023, vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 46.060 tỷ đồng, đạt 100,5% kế hoạch, tăng 10,1% so cùng kỳ; trong đó: vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 27.070 tỷ đồng, tăng 12,5%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5.694 tỷ đồng, giảm 12,1%, vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 11.849 tỷ đồng, tăng 19,4% so cùng kỳ.

    Năm 2023, vốn đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý là 6.862 tỷ đồng, đạt 101,6% kế hoạch, tăng 27,9% so cùng kỳ; gồm có: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 5.847 tỷ đồng, tăng 38,8%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 564 tỷ đồng, giảm 24,9%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 450 tỷ đồng, tăng 11,9% so cùng kỳ.

    - Tình hình thu hút đầu tư:

    Tính đến cuối tháng 11 năm 2023 tỉnh thu hút được 16 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký là 7.798 tỷ đồng, tăng 75,3% so cùng kỳ. Dự kiến cả năm tỉnh thu hút được 22 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký 20.000 tỷ đồng, tăng 95,8% so cùng kỳ.

    - Tình hình phát triển các khu, cụm công nghiệp:

    + Khu công nghiệp: Tiền Giang được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích đất quy hoạch là 2.083,6 ha, trong đó có 3 khu: KCN Mỹ Tho, Tân Hương, Long Giang, đang hoạt động với diện tích 816 ha, chiếm 39,2% diện tích quy hoạch KCN. Đến nay các KCN thu hút được 109 dự án (trong đó có 81 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư trên 2,5 tỷ USD và 4.561 tỷ đồng; diện tích cho thuê 534,6/753,2 ha, chiếm 70,97%.

    + Về cụm công nghiệp: đến nay toàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp (CCN) với diện tích 1.007,3 ha được tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư, trong đó có 4 cụm công nghiệp đã mời gọi được nhà đầu tư gồm: CCN Trung An, Tân Mỹ Chánh, An Thạnh, Gia Thuận 1 đã hoàn thành đầu tư hạ tầng, đang hoạt động ổn định. Tính đến cuối năm 2023 số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp là 68 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 0,2 tỷ USD và 998,2 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 48,34 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 63,07%.

    5. Tình hình phát triển của doanh nghiệp

    Theo báo cáo Sở kế hoạch - Đầu tư, Ước thực hiện năm 2023, số doanh nghiệp thành lập mới là 870 doanh nghiệp, đạt 104,8% kế hoạch, giảm 5,7% so cùng kỳ; tổng vốn đăng ký là 5.500 tỷ đồng; vốn đăng ký bình quân mỗi doanh nghiệp 6,3 tỷ đồng/doanh nghiệp. Đăng ký thành lập mới 788 đơn vị trực thuộc (220 chi nhánh, 548 địa điểm kinh doanh, 20 văn phòng đại diện). Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2023 là 110 doanh nghiệp. Tính đến cuối năm 2023, tổng số doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn khoảng 6.140 doanh nghiệp.

    6. Sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản

    a. Nông nghiệp:

    * Trồng trọt:

     - Cây lương thực có hạt: gieo trồng 131.657 ha, đạt 100,3% kế hoạch và giảm 4,1% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 798.240 tấn, đạt 100,2% kế hoạch và giảm 5,8% so cùng kỳ. Cụ thể:

    + Cây lúa: Gieo sạ 129.389 ha, đạt 100,4% kế hoạch, năng suất bình quân đạt 61 tạ/ha; thu hoạch 100% diện tích với sản lượng 789.904 tấn, đạt 100,3% kế hoạch và giảm 5,9% so cùng kỳ,

    ● Vụ Đông Xuân 2022 - 2023: chính thức xuống giống 48.202 ha, đạt 101,7% kế hoạch và giảm 2% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân đạt 69,8 tạ/ha, giảm 2,1%, sản lượng thu hoạch 336.317 tấn, Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cây hàng năm 539,3 ha, đất cây lâu năm 348,1 ha, đất phi nông nghiệp110 ha (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..) và đất nuôi trồng thủy sản 2,5 ha.

    ● Vụ Hè Thu: diện tích gieo trồng chính thức 68.308 ha (vụ Xuân Hè 22.878 ha và Hè Thu 45.430 ha), đạt 100,4% kế hoạch và giảm 5,5% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân đạt 56,1 tạ/ha, giảm 2,8%; sản lượng 383.286 tấn, giảm 8,1% do diện tích gieo trồng giảm 5,5% và năng suất bình quân giảm 2,8%. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi đất trồng lúa sang: đất trồng cây hàng năm 545 ha, đất cây lâu năm 2.996 ha, cắt vụ 196 ha, đất phi nông nghiệp143 ha (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..) và 76 ha đất nuôi trồng thủy sản.

    ● Vụ Thu đông: diện tích gieo trồng 12.879 ha, đạt 95,5% kế hoạch và giảm 3,9% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân 54,6 tạ/ha, tăng 2,8% so cùng kỳ; sản lượng 70.301 tấn, giảm 1,2% so cùng kỳ, do diện tích gieo trồng giảm theo Đề án “Cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng các huyện phía Đông, tỉnh Tiền Giang đến năm 2025”. Diện tích gieo trồng giảm do chuyển đổi đất trồng lúa sang: 433 ha cây lâu năm, 68 ha không có nước gieo trồng, cắt vụ, chuyển vụ, 16 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng, thủy lợi...).

    + Cây ngô: diện tích gieo trồng đạt 2.256 ha, giảm 4,1% so cùng kỳ, diện tích giảm dần qua từng năm do quá trình đô thị hóa và chuyển sang trồng cây lâu năm; thu hoạch 100% diện tích; năng suất bình quân đạt 36,8 tạ/ha, tăng 1,7%; sản lượng đạt 8.305 tấn, giảm 2,4% do diện tích gieo trồng giảm.

    + Cây lương thực có hạt khác: năm 2023 gieo trồng 12 ha, bằng 57,1%; sản lượng 3 tấn, bằng 58,5% so cùng kỳ.

    - Cây rau đậu các loại: gieo trồng 54.353 ha, giảm 4,1% so cùng kỳ; sản lượng 1.187.685 tấn, giảm 3,1%; trong đó: rau các loại 54.097 ha, giảm 4,1%; sản lượng 1.186.905 tấn, giảm 3,1%. Nguyên nhân do một số diện tích đất màu ven khu công nghiệp chuyển sang loại hình kinh doanh nhà trọ, hàng quán và dịch vụ ăn uống, công trình công cộng…. làm cho diện tích gieo trồng rau màu giảm.

    - Cây lâu năm: Tổng diện tích trồng cây lâu năm sơ bộ năm 2023 đạt 107.564 ha, đạt 102,8% kế hoạch và tăng 2,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 2.624 ha; trong đó diện tích cây ăn quả là 84.192 ha, tăng 2,2% so cùng kỳ. Diện tích tăng tập trung chủ yếu ở các loại cây như: Dứa/khóm, sầu riêng, ổi, ...

    Tổng sản lượng cây lâu năm thu hoạch sơ bộ năm 2023 đạt 2.112.110 tấn, đạt 105,6% kế hoạch và tăng 6,4% so cùng kỳ; trong đó sản lượng cây ăn quả đạt 1.764.419 tấn, đạt 101% kế hoạch và tăng 6,8% so cùng kỳ.

    * Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh có xu hướng tăng, ước thời điểm 01/12/2023: đàn bò 122,3 ngàn con, tăng 5%; đàn lợn 300 ngàn con, tăng 2,5%; đàn gia cầm 16,3 triệu con, tăng 0,5% so cùng kỳ năm trước.

    *Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi trong năm 2023 (theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang):

    - Trên gia cầm: từ đầu năm đến nay, ghi nhận 10 hộ mắc bệnh cúm gia cầm với tổng số gia cầm bệnh là 12.463 con trên tổng đàn 16.900 con tại 04 xã/04 huyện: Cai Lậy, Gò Công Tây, Châu Thành, Gò Công Đông. Số gia cầm được tiêu hủy là 16.900 con.

    - Trên gia súc:

    + Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): từ ngày 14/12/2022 đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 110 hộ có lợn mắc bệnh với số lợn bệnh là 1.452 trên tổng đàn 4.051 con tại 19 xã/09 huyện (Cai Lậy: 01 xã; Tân Phước: 01 xã; Gò Công Tây: 02 xã; Gò Công Đông: 01 xã; Cái Bè: 03 xã; Chợ Gạo: 05 xã; Châu Thành: 03 xã; TP. Mỹ Tho: 01 xã; thị xã Cai Lậy: 02 xã). Số lợn được tiêu hủy là 2.479 con với khối lượng khoảng 114.539 kg.

    + Bệnh viêm da nổi cục: từ ngày 14/12/2022 đến nay, ghi nhận bò bệnh viêm da nổi cục tại 07 huyện/16 xã/18 ấp/21 hộ với 26 con bò bệnh/tổng đàn 85 con; đã tiêu hủy 04 con với khối lượng 746 kg.

    b. Lâm nghiệp:

    Tổng diện tích rừng hiện có 1.735,5 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), bao gồm: rừng phòng hộ 1.381,8 ha trồng ở huyện Gò Công Đông 429,5 ha; huyện Tân Phú Đông 896,9 ha và huyện Tân Phước 55,4 ha và rừng sản xuất là 353,7 ha.

    Tổng số cây trồng năm 2023 được 563,2 ngàn cây phân tán các loại, giảm 14,7% so với cùng kỳ. Cây trồng chủ yếu cây bạch đàn, tràm bông vàng trên các tuyến đường đi lấy bóng mát, xung quanh các tuyến đê bao, trồng cặp ven bờ sông chống sạt lở đất ở các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phú Đông.

    Sản lượng khai thác gỗ đạt 32.600 m3, giảm 5,5% so với cùng kỳ. Các loại gỗ được khai thác chủ yếu từ các loại cây như: bạch đàn, bạch đàn cao sản, dầu gió, tràm lanh. Diện tích rừng và số lượng trồng cây qua các năm chuyển đổi sang trồng các loại cây ăn quả khác như cây khóm (dứa), mít, sầu riêng, thanh long, dừa (dừa xiêm xanh, lùn giống mới).

    Năm 2023, toàn tỉnh khai thác được 103.571 Ste củi các loại, giảm 15,6% so cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác giảm do hộ dân ở các huyện Cái Bè, Tân Phước, Gò Công Đông chuyển đổi cây trồng sang vườn cây ăn trái.

    c. Thủy sản:

    Tổng số diện tích nuôi trồng thủy sản các loại trong năm 2023 đạt 15.044 ha, đạt 102% kế hoạch, tăng 1,4% so cùng kỳ; bao gồm: diện tích nuôi tôm đạt 8.400 ha, tăng 2,8%; diện tích nuôi cá đạt 3.585 ha, tương đương so cùng kỳ; diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.059 ha, giảm 0,9%.

    Sản lượng thủy sản năm 2023 đạt 310.566 tấn, giảm 11% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng từ nuôi 211.489 tấn, tăng 0,2%; sản lượng khai thác 99.077 tấn, giảm 28,1%.

    d. Nông thôn mới:

    Theo lộ trình, đến cuối năm 2023, tỉnh có thêm 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn tỉnh là 142/142 xã, đạt 100%; có 11 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh là 50/142 xã, đạt 35,2%; 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, tổng số xã nông thôn mới kiểu mẫu là 4 xã và 2 huyện (Cái Bè, Châu Thành) đạt chuẩn huyện nông thôn mới, nâng tổng số có 6/8 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới và 03 đô thị hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

    7. Sản xuất công nghiệp

    Hoạt động sản xuất công nghiệp của tỉnh có nhiều biến động do ảnh hưởng kinh tế thế giới, doanh nghiệp không có đơn hàng hoặc đơn hàng giảm, bên cạnh đó có một số doanh nghiệp mới đi vào hoạt động làm cho chỉ số sản xuất công nghiệp tăng khá.

    Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2023 tăng 5,12% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,88% (một số ngành có chỉ số tăng mạnh như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 48,41%; Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 42,73%; Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 31,57%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 20,04%;...); ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,71%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,45%.

    Sản phẩm sản xuất công nghiệp năm 2023: Có 33/53 sản phẩm tăng so cùng kỳ như: Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 106,6%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 23,6%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 21,4%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 17,5%; Điện thương phẩm tăng 9,5%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 5,2%; Thức ăn cho gia súc tăng 3,4%; Phân vi sinh tăng 1,1%; Bia đóng lon tăng 0,8%;… Có 20/53 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 66,1%; Túi xách giảm 23,7%; Dây thép không gỉ giảm 16,8%; Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 11,4%; Thức ăn cho thủy sản giảm 4,1%; Phi lê đông lạnh giảm 3,9%; Bia đóng chai giảm 2,6%;…

    * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

    - Chỉ số tiêu thụ tháng 12/2023 so với tháng trước tăng 6,56% và tăng 9,14% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2023 giảm 5,65% so cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 9,12%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 10,58%; sản xuất đồ uống giảm 3,3%, trong đó sản xuất bia giảm 3,3%; sản xuất trang phục giảm 54,71%; sản xuất da giảm 16,82%, trong đó sản xuất giày dép giảm 13,05%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 0,26%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 46,26%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: dệt tăng 1,58%, trong đó sản xuất sợi tăng 20,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 13,51%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 58,06%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 56,89%; sản xuất kim loại tăng 14,63%;…

    - Chỉ số tồn kho tháng 12/2023 so tháng trước tăng 6,91% và so với cùng kỳ tăng 55,96%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,4 lần, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 30,32%; sản xuất da tăng 17,72%, trong đó sản xuất giày dép tăng 20,36%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 47,53%; …Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: dệt giảm 65,52%; sản xuất trang phục giảm 36,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 68,65%; sản xuất thiết bị điện giảm 79,79%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 81,11%;…

    8. Thương mại, dịch vụ

    a. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

    Nhằm thúc đẩy các hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển, tập trung xây dựng phát triển hạ tầng thương mại và có những bước tiến đáng kể, đưa Tiền Giang trở thành điểm giao thương năng động, đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh hoạt của người dân trên địa bàn và các khu vực lân cận.

    Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2023 là 82.025 tỷ đồng, đạt 100,0% kế hoạch, tăng 10,8% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 63.329 tỷ đồng, tăng 10,4%; lưu trú, ăn uống 7.283 tỷ đồng, tăng 11,9%; du lịch lữ hành 181 tỷ đồng, tăng 38,3%; dịch vụ tiêu dùng 11.232 tỷ đồng, tăng 11,5% so cùng kỳ.

    b. Xuất - Nhập khẩu:

    Kinh tế thế giới phục hồi chậm với chính sách thắt chặt tiền tệ ở nhiều quốc gia làm suy giảm nhu cầu tiêu dùng của các đối tác thương mại lớn, do đó đã ảnh hưởng đến kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam. Ngoài ra xuất khẩu Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hoa Kỳ, khi các thị trường này biến động sẽ làm trì trệ hoạt động xuất khẩu của tỉnh, nhất là các mặt hàng nông sản. Với sự nổ lực của các doanh nghiệp, xuất khẩu năm 2023 của tỉnh tăng khá so cùng kỳ.

    * Xuất khẩu:

    Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2023 ước 5.107 triệu USD, đạt 130,9% kế hoạch, tăng 25% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 28 triệu USD, tăng 142,7%; kinh tế ngoài nhà nước 1.299 triệu USD, tăng 75,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 3.779 triệu USD, tăng 13,4% so cùng kỳ. Một số mặt hàng xuất khẩu của tỉnh trong năm 2023 như sau:

    - Thủy sản: ước năm 2023 xuất 165.090 tấn, tăng 46,2% so cùng kỳ; với giá trị xuất 487 triệu USD, đạt 121,8% kế hoạch, tăng 26,3% so cùng kỳ.

    - Gạo: ước năm 2023 xuất 163.521 tấn, tăng 28,1% so cùng kỳ; với giá trị 98 triệu USD, đạt 196% kế hoạch, tăng 53,8% so cùng kỳ.

    - Hàng dệt, may: ước năm 2023 xuất 63.040 ngàn sản phẩm, giảm 39,2%; trị giá xuất 820 triệu USD, đạt 132,3% kế hoạch, tăng 26,4% so cùng kỳ.

    - Kim loại thường và sản phẩm (kể cả đồng): ước năm 2023 xuất 111.894 tấn, tăng 15,2%; trị giá xuất 1.103 triệu USD, tăng 11,3% so cùng kỳ.

    Ngoài ra, trị giá xuất khẩu một số mặt hàng trong năm 2023 như: giày dép các loại 829 triệu USD, tăng 2,4%; sắt, thép 272 triệu USD, tăng 295,7%; túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 200 triệu USD, giảm 16%... so cùng kỳ.

    * Nhập khẩu:

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2023 ước thực hiện 2.701 triệu USD, đạt 117,4% kế hoạch, tăng 20,7% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 183 triệu USD, tăng 42,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2.518 triệu USD, tăng 19,4% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như kim loại thường khác 868 triệu USD, giảm 9,6%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 555 triệu USD, tăng 53,8%; sắt, thép các loại 291 triệu USD, tăng 181%; vải các loại 249 triệu USD, tăng 13,3%... so cùng kỳ.

    c. Vận tải:

    Năm 2023, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 2.504 tỷ đồng, tăng 12,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 649 tỷ đồng, tăng 15,2% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 1.611 tỷ đồng, tăng 12,5% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 1.010 tỷ đồng, tăng 12,8%; vận tải đường thủy thực hiện 1.250 tỷ đồng, tăng 13,7%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 244 tỷ đồng, giảm 7,8% so cùng kỳ.

    Trong năm, vận chuyển hành khách 16.507 ngàn hành khách, tăng 14,4% và luân chuyển 363.311 ngàn hành khách.km, tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 5.554 ngàn hành khách, tăng 9,7% và luân chuyển 351.428 ngàn hành khách.km, tăng 9,9% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy 10.953 ngàn hành khách, tăng 17% và luân chuyển 11.883 ngàn hành khách.km, tăng 22,5% so cùng kỳ.

    Năm 2023, vận tải hàng hóa 15.645 ngàn tấn, tăng 13,3% và luân chuyển 3.046.444 ngàn tấn.km, tăng 12,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 2.263 ngàn tấn, tăng 9,8% và luân chuyển được 489.126 ngàn tấn.km, tăng 10,9% so cùng kỳ; vận tải đường thủy thực hiện 13.382 ngàn tấn, tăng 13,9% và luân chuyển 2.557.318 ngàn tấn.km, tăng 12,6% so cùng kỳ.

    * Phương tiện giao thông: Trong tháng đăng ký mới 3.004 chiếc mô tô xe máy, 355 chiếc ô tô, 02 chiếc xe đạp điện và 01 xe khác. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.484.407 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 1.431.894 chiếc, 51.305 xe ô tô, 157 xe ba bánh, 471 xe đạp điện và 580 xe khác.

     d. Du lịch:

    Nhằm phục hồi và phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh, với nhiều chính sách mở cửa kịp thời thông thoáng, thực hiện nhiều giải pháp có hiệu quả, quá trình phục hồi ngành du lich Tiền Giang có những chuyển biến tích cực và đạt nhiều kết quả khả quan.

    Năm 2023, lượng khách du lịch đến tỉnh 1.389 ngàn lượt, đạt 111,1% kế hoạch, tăng 67,8% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 420 ngàn lượt, đạt 168,1% kế hoạch, tăng 4,2 lần so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành 7.464 tỷ đồng, tăng 12,5% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 97,6%, tương đương 7283 tỷ đồng.

    e. Bưu chính - Viễn thông:

    Doanh thu bưu chính - viễn thông đến cuối tháng 12/2023 đạt 3.683 tỷ đồng, đạt 134,8% kế hoạch và tăng 4,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 384 tỷ đồng, đạt 100,8% kế hoạch, tăng 11,3% so cùng kỳ, doanh thu viễn thông 3.298 tỷ đồng, đạt 140,3% kế hoạch, tăng 4,2% so cùng kỳ.

    Tổng số thuê bao điện thoại trên mạng ước đến cuối năm 2023 là 128.581 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,18 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây từ đầu năm 2023 đến nay tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa và giá cước điện thoại ngày càng giảm cho nên khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Tổng số thuê bao internet trên mạng đến cuối năm 2023 là 385.231 thuê bao, mật độ internet bình quân ước đạt 21,51 thuê bao/100 dân.

    II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

    1. Lao động, giải quyết việc làm

    a. Tư vấn và giới thiệu việc làm:

    Trong năm 2023, tư vấn nghề, việc làm, pháp luật lao động và tư vấn khác cho 28.755 lượt lao động, đạt 144% kế hoạch và tăng 6,1% so cùng kỳ; trong đó: tư vấn nghề cho 1.287 lượt lao động, tư vấn việc làm cho 3.439 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 23.117 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 912 lượt lao động. Giới thiệu việc làm cho 3.430 lượt lao động, tăng 8,2% so cùng kỳ; trong đó có 1.578 lao động có được việc làm ổn định, tương đương so cùng kỳ.

    Trong năm, ghi nhận 23.422 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 14,8% so cùng kỳ. Có 23.476 lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 16,1% với tổng số tiền chi trả gần 532,8 tỷ đồng.

    Người lao động đi làm việc nước ngoài trong năm 2023 có 508 người xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài như: Nhật Bản 436 lao động; Đài Loan 54 lao động; Canada 06 lao động; Hàn Quốc 05 lao động…, đạt 169% kế hoạch và tăng 15,7% so cùng kỳ.

    Từ đầu năm đến nay, số vụ ngừng việc, đình công tập thể ghi nhận 05 vụ tại 05 doanh nghiệp với sự tham gia của khoảng 990 người lao động trên tổng số 3.083 người lao động đang làm việc, thời gian ngừng việc từ 2,5 giờ - 3 ngày.

    b. Một số chỉ tiêu về dân số:

    Ước tính năm 2023, dân số trung bình tỉnh Tiền Giang là 1.790.653 người, tăng 0,3% so cùng kỳ năm trước; dân số nam là 881.628 người, tăng 0,3% và chiếm 49,2%; dân số nữ là 909.025 người, tăng 0,3% và chiếm 50,8%.

    Dân số thành thị là 273.679 người, tăng 0,6% và chiếm 15,3%; dân số nông thôn là 1.516.974 người, tăng 0,2% và chiếm 84,7%.

    c. Tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp:

    Theo số liệu tổng hợp sơ bộ điều tra lao động việc làm năm 2023, tỷ lệ lao động thiếu việc làm năm 2023 chiếm 6,7%, tăng 1,4 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước (từ 5,3% năm 2022 lên 6,7% năm 2023), làm cho tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị tăng 2,2 điểm phần trăm (từ 7,6% lên 9,8%) và tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn tăng 0,9 điểm phần trăm (từ 4,4% lên 5,3).

    Tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh năm 2023 tương đương cùng kỳ là 1,4%, nhưng tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm 0,5 điểm phần trăm (từ 3,1% năm 2022 xuống 2,6% năm 2023) và tỷ lệ thất nghiệp khu vực nông thôn tăng 0,2 điểm phần trăm (từ 0,7% năm 2022 lên 0,9% năm 2023); tỷ trọng thất nghiệp ở khu vực thành thị chiếm 56,7% so với tổng số lao động thất nghiệp của toàn tỉnh.

    Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp của toàn tỉnh không thay đổi so cùng kỳ năm trước. Nhưng tỷ lệ số lao động thiếu việc làm năm 2023 lại tăng so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm 2023 tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhiều đơn hàng tiếp tục bị cắt giảm đã dẫn đến nhiều người lao động bị thiếu, mất việc làm, ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và đời sống của người lao động.

    d. Tình hình thôi việc, mất việc, nghỉ giãn việc:

    Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Tiền Giang, tình hình thôi việc, mất việc, từ ngày 01/10/2023 đến ngày 15/12/2023 là 4.652 người. Chia theo trình độ: lao động phổ thông là 4.186 người (chiếm 89,98%), lao động có tay nghề là 466 người (chiếm 10,02%). Chia theo ngành: dệt may là 1.808 người (chiếm 38,87%); da giày là 1.854 người (chiếm 39,85%); chế biến thực phẩm là 130 người (chiếm 2,79%); ngành khác là 860 người (chiếm 18,49%).

    Về nghỉ giãn việc của các doanh nghiệp tại địa phương từ ngày 01/10/2023 đến ngày 15/12/2023 là 5.903 người. Chia theo trình độ: lao động phổ thông là 5.550 người (chiếm 94,02%), lao động có tay nghề là 353 người (chiếm 5,98%). Chia theo ngành: dệt may là 120 người (chiếm 2,03%); da giày là 4.230 người (chiếm 71,66%); chế biến thực phẩm là 1.247 người (chiếm 21,12%); ngành khác là 306 người (chiếm 5,18%).

    Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thôi việc, mất việc, nghỉ giãn việc do ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế, khó khăn chung của nền kinh tế toàn cầu, tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong khu, cụm công nghiệp và một số doanh nghiệp khác đều gặp khó khăn như sụt giảm đơn hàng xuất khẩu trong những tháng đầu năm (30% - 50% đơn hàng so với cùng kỳ), tác động mạnh nhất là các doanh nghiệp trong lĩnh vực giày da, may mặc, chế biến thực phẩm, điện tử,… một số doanh nghiệp đã phải cắt giảm nhân công, giảm giờ làm, giảm quy mô sản xuất.

    2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội

    Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2023 ở các huyện, thành, thị. Qua kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2023 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025. Hiện nay, toàn tỉnh còn 4.925 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,97% (giảm 1.508 hộ nghèo) và 8.677 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 1,71%.

    Năm 2023, toàn tỉnh thực hiện xây dựng, sửa chữa nhà ở cho người có công, thân nhân người có công với cách mạng: 339/365 căn, đạt khoảng 93% (xây mới: 77 căn; sửa chữa: 262 căn) với tổng kinh phí là 15,1 tỷ đồng.

    Vận động quỹ Đền ơn đáp nghĩa đạt gần 11,6 tỷ đồng (xây dựng nhà tình nghĩa 72 căn, sửa chữa nhà tình nghĩa 97 căn).

    Tổ chức tặng quà Tết Nguyên đán Quý Mão năm 2023: tặng quà của Chủ tịch nước (nguồn kinh phí Trung ương), số lượng 37.292 người với số tiền 11,3 tỷ đồng; trợ cấp của tỉnh (nguồn kinh phí địa phương) là 27,5 tỷ đồng với số lượng 69.771 người; tổ 15 Đoàn lãnh đạo Ban Thường vụ Tỉnh ủy thăm 80 hộ gia đình chính sách tiêu biểu, 02 hộ gia đình quân nhân đang làm nhiệm vụ và 47 đơn vị tập trung với tổng số tiền là 558 triệu đồng.

    3. Hoạt động giáo dục

    Trong năm học 2022 – 2023, Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia THPT (diễn ra vào các ngày 24 và 25/02/2023), tổng số thí sinh đăng ký dự thi là 54 thí sinh và có 18 thí sinh đạt giải, tăng 09 giải so với năm học 2021-2022; Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THPT năm học 2022-2023 diễn ra ngày (03/3/2023) với 1.277 thí sinh dự thi. giải nhất: 55 thí sinh (4,31%); giải nhì: 137 thí sinh (10,75%); giải ba: 160 thí sinh (12,55%); 271 thí sinh (21,25%); Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THCS (ngày 21/3/2023) có 983 thí sinh dự thi. Đạt 439 giải (44,66%), trong đó có 38 giải nhất, 106 giải nhì, 111 giải ba và 184 giải khuyến khích.

     Tổ chức Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2023-2024 khóa ngày 05 và 06/6/2023 với 20.441 thí sinh đăng ký dự thi, tăng 1.141 thí sinh so với tuyển sinh năm học 2022-2023.

     Tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT khóa ngày 28 và 29/6/2023 an toàn, đúng quy chế, hạn chế các sai sót, không có sự cố xảy ra trong tất cả các khâu của kỳ thi. Kết quả điểm trung bình toàn tỉnh: 6,72.

     Tổng số thí sinh đỗ tốt nghiệp là 15.008/15.057 thí sinh dự thi (tỷ lệ 99,67%). Tổng số thí sinh đỗ tốt nghiệp cả 02 đợt là 14.995/15.043 thí sinh dự thi (tỷ lệ 99,68%, không bao gồm thí sinh tự do).

     Số trường có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 100% là 30/38 trường, gồm các trường gồm: Trường THPT Đốc Binh Kiều, THPT Tân Hiệp, THPT Vĩnh Kim, THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT Chuyên, THPT Trần Hưng Đạo, THPT Chợ Gạo,…

    4. Hoạt động y tế

    Trong năm, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang có quy mô 1.000 giường bệnh đã đưa vào sử dụng cùng với các cơ sở khám chữa bệnh trên địa bàn thực hiện hiệu quả công tác khám chữa bệnh cho người dân.

    Bệnh sốt xuất huyết ghi nhận 3.408 trường hợp mắc mới giảm 62,3% so cùng kỳ, tử vong 01 trường hợp. Sốt xuất huyết xảy ra ở 11/11 huyện, thị, thành, tỉ lệ mắc là 187/100.000 dân. Số ca mắc/100.000 dân cao nhất là Cái Bè (353/100.000), Cai Lậy (313/100.000), thị xã Cai Lậy (265/100.000).

    Bệnh HIV/AIDS năm 2023, phát hiện 407 trường hợp nhiễm HIV mới, 54 trường hợp tử vong. Đến nay, tổng số nhiễm HIV toàn tỉnh là 6.432 trường hợp, tổng số AIDS là 1.819 trường hợp và tử vong do AIDS là 1.277 trường hợp. Dịch HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh đã được khống chế theo chỉ số cho phép (< 0,3% dân số), bệnh HIV/AIDS vẫn còn là vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng. Công tác phòng, chống HIV/AIDS thường xuyên được tuyên truyền, theo dõi, quản lý và tư vấn tốt.

    Công suất sử dụng giường bệnh chung toàn tỉnh đạt 71,28%, trong đó, Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đạt 89,66%; Bệnh viện chuyên khoa đạt 65,96%; Trung tâm y tế đạt 48,25%; Ghi nhận 4.316.979 lượt người bệnh đến khám và 185.499 người điều trị nội trú.

    5. Hoạt động văn hóa - thể thao

    Hoạt động văn hóa trên địa bàn diễn ra đúng theo kế hoạch năm 2023.

    Toàn tỉnh hiện có 460.611/486.271 hộ đạt 3 tiêu chuẩn Gia đình văn hóa, đạt 94,7%; 1.005/1.005 ấp, khu phố văn hóa, đạt tỷ lệ 100%; 172/172 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới/phường/thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị ( gồm có 142 xã, 21 phường và 8 thị trấn), đạt 100%; 69 chợ văn hóa; 18 công viên văn hóa; 951 con đường văn hóa, 569 cơ sở thờ tự văn hóa.

    - Hoạt động bảo tàng: đã đón hơn 148 ngàn lượt khách tham quan, sưu tầm được 223 hình ảnh, tư liệu, hiện vật.

    - Hoạt động văn hóa nghệ thuật: tổ chức 06 cuộc hội thi, liên hoan cấp tỉnh; tham gia 06 cuộc Liên hoan Hội thi toàn quốc. Tổ chức công tác tuyên truyền các ngày lễ, sự kiện lớn theo kế hoạch năm 2023.

    - Hoạt động thư viện: Thư viện tỉnh, huyện và các phòng đọc cơ sở phục vụ hơn 338 ngàn lượt bạn đọc với hơn 646 ngàn lượt sách báo lưu hành.

    - Hoạt động Thể dục - Thể thao: Trong năm 2023, tỉnh đã tổ chức 35 giải thể thao; trong đó có 06 giải quốc gia, 3 giải đồng bằng sông Cửu Long, 01 giải mở rộng ... Đoàn thể thao Tiền Giang tham dự và đạt nhiều huy chương.

    6. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo của ngành Công an)

    - Tai nạn giao thông đường bộ: tai nạn giao thông tháng 12/2023 xảy ra 28 vụ, tăng 01 vụ so tháng trước và tăng 11 vụ so cùng kỳ; làm chết 22 người tăng 02 người so tháng trước và tăng 13 người so cùng kỳ; bị thương 09 người giảm 04 người so tháng trước và giảm 01 người so cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến nay, xảy ra 278 vụ, giảm 83 vụ so cùng kỳ; làm chết 206 người, giảm 53 người so cùng kỳ và bị thương 129 người, giảm 46 người so cùng kỳ. Thiệt hại tài sản chung trị giá khoảng 3,2 tỷ đồng. Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông như: điều khiển xe khi có rượu bia, phóng nhanh vượt ẩu, không làm chủ tốc độ; không đi đúng phần đường, làn đường; không nhường đường, vượt đèn đỏ, thiếu quan sát.

    - Tai nạn giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 01 vụ tai nạn, tăng 01 vụ so tháng trước và tăng 01 vụ so cùng kỳ. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 04 vụ tai nạn, tăng 01 vụ so cùng kỳ; không ghi nhận số người chết và bị thương.

    7. Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội (theo báo cáo ngành Công an)

    Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 860 vụ, tăng 09 vụ so với năm 2022, làm chết 22 người, bị thương 170 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 19 tỷ đồng. Điều tra khám phá 696 vụ, đạt 80,9%, bắt xử lý 1.303 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 5 tỷ đồng.

    Phát hiện, xử lý hình sự 198 vụ, 236 đối tượng phạm tội về ma túy (nhiều hơn 75 vụ và 87 đối tượng so với năm 2022); xử lý vi phạm hành chính 1.313 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

    8. Tình hình cháy nổ, môi trường và thiên tai

    Cháy, nổ: ghi nhận 09 vụ, giảm 06 vụ so cùng kỳ; tài sản thiệt hại trị giá khoảng 11 tỷ đồng; nguyên nhân chủ yếu do sự cố về điện, người dân bất cẩn trong sử dụng lửa.

    - Lĩnh vực môi trường: xảy ra 02 vụ vi phạm về môi trường trên địa bàn tỉnh đã được xử lý. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 22 vụ vi phạm đã xử lý, giảm 06 vụ so với cùng kỳ.

    - Về thiên tai: trên địa bàn tỉnh không có xảy ra. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 17 cơn lốc xoáy, làm 05 căn nhà bị sập, 315 căn nhà bị tốc mái, 18.754 cây ăn trái bị ngã đổ, 200 con gà ri bị chết, 35 điểm sạt lở. Tổng giá trị thiệt hại 84,1 tỷ đồng.

    III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHỤC HỒI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, THỰC HIỆN CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2024

    Sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh năm 2023, trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới biến động khó lường, không thuận lợi, nhưng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt, sát sao của lãnh đạo tỉnh và nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, kinh tế của tỉnh đạt mức tăng trưởng 5,72%, đây không phải là mức tăng trưởng cao nhưng là kết quả tích cực trong bối cảnh khó khăn của kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, các chỉ số thống kê cho thấy kinh tế của tỉnh tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức phù hợp; cung cầu hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng nội địa duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trụ vững với mức tăng ổn định khẳng định chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu và gia tăng xuất khẩu. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện rõ rệt, tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt mức cao, an sinh xã hội được quan tâm kịp thời, hiệu quả.

    Tuy nhiên, bước sang năm 2024 dự báo, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; các biến động về kinh tế, chính trị của thế giới, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai, biến đổi khí hậu và dịch bệnh khó dự báo. Do đó, các ngành, các cấp tăng cường dự báo, chủ động điều hành linh hoạt, phù hợp với tình hình mới, kịp thời ứng phó với các tình huống phát sinh, tập trung triển khai hiệu quả đồng bộ các chính sách hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

    Theo kết quả điều tra xu hướng dự báo sản xuất kinh doanh quý I/2024 so với quý IV/2023 như sau:

    - Sản xuất kinh doanh: xu hướng sản xuất kinh doanh có 34,38% doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo dự báo tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt lên và 37,5% dự báo giữ ổn định; có 28,13% doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn. Doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt lên và giữ ổn định ở mức 100%; Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt lên và giữ ổn định ở mức 67,21%. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tỷ lệ doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh tốt lên và giữ ổn định ở mức 78,78%,

    - Khối lượng sản xuất: có 35,42% doanh nghiệp dự báo tăng; có 32,29% doanh nghiệp dự báo giữ ổn định; Có 32,29% doanh nghiệp dự báo giảm. Chia ra: Khu vực doanh nghiệp nhà nước dự báo về khối lượng sản xuất tăng 100%; Tiếp đến là, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài dự báo về khối lượng sản xuất tăng 39,39% và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước dự báo về khối lượng sản xuất tăng 31,15%.

    - Đơn đặt hàng mới: có 34,04% doanh nghiệp dự báo tăng đơn hàng; có 32,98% doanh nghiệp dự báo giữ nguyên đơn hàng và có 32,98% doanh nghiệp dự báo giảm.

    Năm 2024 cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

    - Tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp về tình hình hoạt động, thị trường tiêu thụ, nguyên liệu sản xuất, lao động,... Tập trung rà soát lại tình hình sản xuất ở từng ngành, đặc biệt là các ngành như: dệt may, da giày, chế biến thủy sản, sản xuất kim loại, cơ khí; các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ,...

    - Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Tiền Giang đến năm 2030 gắn với xây dựng nông thôn mới; đề án Cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng các huyện phía Đông tỉnh Tiền Giang đến năm 2025; Đề án phát triển cây thanh long tỉnh Tiền Giang đến năm 2025; Đề án phát triển cây sầu riêng tỉnh Tiền Giang đến năm 2025;... tiếp tục đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ trong sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh sản phẩm. Tiếp tục hỗ trợ, nâng cao năng lực các hợp tác xã nông nghiệp; phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất và tiêu thụ.

    - Triển khai thực hiện đồng bộ, chủ động, linh hoạt chính sách về lãi suất, gói hỗ trợ lãi suất cho vay, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; tiếp tục triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường công tác kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi trong vay vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp và người dân.

    - Tăng cường huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn trong và ngoài nước, các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển gắn với xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ bằng các hình thức phù hợp, đặc biệt là hình thức hợp tác công tư (PPP), xã hội hóa… ưu tiên mời gọi đầu tư các dự án quan trọng có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ như: giao thông vận tải, công nghệ thông tin và truyền thông, đô thị, công nghiệp nông nghiệp, nông thôn... Tiếp tục triển khai các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh đã được phê duyệt đảm bảo tiến độ theo kế hoạch; Đầu tư nâng cấp các tuyến đường huyện, đường giao thông nông thôn đạt tiêu chí huyện nông thôn mới, xã nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao trong giai đoạn 2021-2025.

    - Theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phòng chống thiên tai, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn nhằm hạn chế thiệt hại tới sản xuất và cuộc sống người dân. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm.

    - Các ngành chức năng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Tiếp tục phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế; chuyển dần sang xuất khẩu sản phẩm chế biến sâu, phát triển xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh và có thương hiệu mạnh.

    - Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của các ngành, các cấp. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. Thực hiện nghiêm quy chế làm việc, kỷ luật phát ngôn, công khai minh bạch tạo môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng. Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số.

    - Tăng cường công tác an ninh trật tự, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.

 

([1])Theo công văn số 2153/TCTK-TKQG ngày 25/11/2023 của Tổng cục Thống kê

([2])Theo công văn số 1570/TCTK-DSLĐ  ngày 12/9/2023 của Tổng cục Thống kê

Số liệu ước tháng 12-2023

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 29)
Trang:1 - 2 - 3Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 02 năm 2024 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2023 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*)

-18,0

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

+8,9

Khách quốc tế đến Tiền Giang

+25,9

Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước

-12,3

Chỉ số giá tiêu dùng (*)

+1,05

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2024 (xem chi tiết):

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 7,0 – 7,5% so với năm 2023;

- Cơ cấu kinh tế: khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 35,1%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,6%, khu vực dịch vụ (bao gồm thuế sản phẩm) chiếm 35,3%.

- GRDP bình quân đầu người đạt 75,8 - 76,2 triệu đồng/người/năm;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỷ USD;

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 50.400 – 50.650 tỷ đồng;

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 8.801 tỷ đồng;

- Tổng chi ngân sách địa phương 14.456 tỷ đồng;

- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 890 doanh nghiệp.

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 42
Truy cập: 1.974.932
Truy cập tháng: 68.082
User IP: 3.230.143.213

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn