Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

"CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG SỐNG VÀ LÀM VIỆC THEO HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT"

 

 

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2023
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang tháng 10 năm 2023
Thứ bảy, Ngày 28 Tháng 10 Năm 2023

    Trong tháng 10, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh ổn định và tiếp tục tăng trưởng trên hầu hết các ngành lĩnh vực. Kết quả thực hiện như sau:

    I. SẢN XUẤT NÔNG - LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

    1. Nông nghiệp

    Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 12.943 ha, sản lượng thu hoạch 202 tấn. Ước tính đến cuối tháng 10 năm 2023: gieo trồng 131.552 ha, đạt 100,2% kế hoạch, giảm 4,1% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 726.771 tấn, đạt 91,2% kế hoạch, giảm 6,3% so cùng kỳ; trong đó: cây lúa gieo sạ 129.389 ha, giảm 4%, thu hoạch 116.510 ha, giảm 4,1%, sản lượng thu hoạch 719.603 tấn, giảm 6,3% so cùng kỳ.

 

Hình 1. Cây lương thực có hạt tính đến 15/10/2023

    - Cây lúa:

    + Vụ Hè Thu: diện tích gieo trồng chính thức 68.308 ha (vụ Xuân Hè 22.878 ha và Hè Thu 45.430 ha), đạt 100,4% kế hoạch, giảm 5,5% so cùng kỳ; thu hoạch 100% diện tích với năng suất thu hoạch bình quân đạt 56,1 tạ/ha, giảm 2,8%, tương đương giảm 1,6 tạ/ha; sản lượng 383.286 tấn, giảm 8,1% so cùng kỳ do diện tích gieo trồng và năng suất bình quân giảm. Diện tích gieo trồng giảm 3.956 ha do chuyển đổi đất trồng lúa sang: 2.996 ha đất cây lâu năm, 545 ha đất trồng cây hàng năm khác, 196 ha cắt vụ, 143 ha đất phi nông nghiệp (xây dựng, cơ sở hạ tầng,..) và 76 ha đất nuôi trồng thủy sản. Giảm ở các huyện: TX Gò Công 164 ha, TX Cai Lậy 320 ha, Tân Phước 75 ha, Cái Bè 2.180 ha, Cai Lậy 820 ha, Châu Thành 136 ha, Chợ Gạo 34 ha, Gò Công Tây 227 ha.

    + Vụ Thu Đông: diện tích gieo trồng 12.879 ha, đạt 95,5% kế hoạch, giảm 3,9% so cùng kỳ. Diện tích gieo trồng vụ lúa Thu Đông trên địa bàn tỉnh chủ yếu ở các huyện hạ lưu sông Tiền như: huyện Chợ Gạo 137 ha, huyện Gò Công Tây 7.056 ha, Thị xã Gò Công 3.468 ha, huyện Gò Công Đông 257 ha, cũng là vùng trọng điểm của tỉnh trồng lúa thơm, đặc sản, các giống lúa chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Theo dự báo, hạn, mặn năm 2023-2024 sẽ diễn biến phức tạp, có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến diện tích trồng lúa ở các địa phương trong vùng Ngọt hóa Gò Công của tỉnh. Vì vậy, tỉnh đã khuyến cáo, tuyên truyền, vận động thực hiện cắt vụ toàn bộ vụ lúa Thu Đông 2023 theo Đề án “Cắt vụ, chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu cây trồng các huyện phía Đông, tỉnh Tiền Giang đến năm 2025” để xuống giống vụ lúa Đông Xuân 2023-2024 đảm bảo an toàn hiệu quả, nhưng thực tế diện tích xuống giống chỉ thấp hơn so cùng kỳ 4,5%.

    - Cây ngô: trong tháng gieo trồng 64 ha. Mười tháng năm 2023, gieo trồng 2.163 ha, đạt 89,4% kế hoạch, giảm 5,7% so cùng kỳ; thu hoạch 1.986 ha, giảm 12,7%; năng suất bình quân đạt 36,1 tạ/ha, tăng 0,1% với sản lượng đạt 7.168 tấn, đạt 82,3% kế hoạch, giảm 12,6%.

    Cây rau, đậu các loại: trong tháng gieo trồng 2.543 ha, thu hoạch 1.404 ha với sản lượng 34.825 tấn. Mười tháng gieo trồng 53.156 ha, đạt 91,8% kế hoạch, giảm 2,5% so cùng kỳ; thu hoạch 47.252 ha, giảm 0,3% với sản lượng 999.643 tấn, đạt 81% kế hoạch, tăng 0,6%; trong đó: rau các loại 52.906 ha, giảm 2,6%, diện tích thu hoạch đạt 47.008 ha, giảm 0,3%; sản lượng thu hoạch đạt 998.910 tấn, tăng 0,6% so cùng kỳ.

    Chăn nuôi: ước thời điểm 01/10/2023 tổng đàn gia súc, tăng không đáng kể: đàn bò 122,7 ngàn con, tăng 0,1% so cùng kỳ; đàn lợn 295 ngàn con, tăng 0,7%; đàn gia cầm (không kể chim cút) 16,3 triệu con, giảm 5,5%. Đàn gia cầm phục hồi còn chậm do ảnh hưởng bởi tình hình nguyên vật liệu đầu vào những tháng trước đó (đặc biệt là thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y) và xăng dầu biến động đã gây áp lực trong việc sản xuất và kế hoạch của các cơ sở chăn nuôi, đặc biệt cơ sở chăn nuôi gà, vịt nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, giá thịt hơi thấp do nhu cầu giảm so với nguồn cung trong thị trường.

 

Hình 2. Chăn nuôi tại thời điểm 01/10/2023

    * Tình hình dịch bệnh trên vật nuôi: Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang

    Gia cầm: trong tháng không ghi nhận dịch bệnh trên gia cầm. Tính từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 10 hộ mắc bệnh cúm gia cầm với tổng số gia cầm bệnh là 12.463 con trên tổng đàn 16.900 con tại 04 xã/04 huyện (Cai Lậy: 01 xã; Gò Công Tây: 01 xã; Châu Thành: 01 xã; Gò Công Đông: 01 xã).

    Gia súc:

    Bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: trong tháng ghi nhận 01 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 44 con trên tổng đàn 53 con, số lợn được tiêu hủy là 44 con với trọng lượng khoảng 445 kg. Tính từ đầu năm đến nay (từ ngày 14/12/2022) trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận 08 hộ có lợn mắc bệnh với tổng số lợn bệnh là 223 trên tổng đàn 323 con tại 07 xã/06 huyện (Cai Lậy: 01 xã; Tân Phước: 01 xã; Gò Công Tây: 02 xã; Gò Công Đông: 01 xã; Cái Bè: 01 xã; Chợ Gạo: 01 xã).

    Bệnh viêm da nổi cục: trong tháng ghi nhận 04 trường hợp bò bệnh viêm da nổi cục tại huyện Chợ Gạo với 04 con bò bệnh trên tổng đàn 11 con. Tính từ đầu năm đến nay (từ ngày 14/12/2022) ghi nhận bò bệnh viêm da nổi cục tại 07 huyện/16 xã/18 ấp/21 hộ với 26 con bò bệnh/tổng đàn 85 con; đã tiêu hủy 04 con với khối lượng khoảng 746 kg.

    2. Lâm nghiệp:

    Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là 1.735,5 ha (không bao gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng), cụ thể: 1.381,8 ha rừng phòng hộ và 353,7 ha rừng sản xuất.

    Trong tháng toàn tỉnh thực hiện trồng mới được 8 ngàn cây phân tán. Nâng tổng số cây trồng lên 561,2 ngàn cây các loại, tăng 9,5% so cùng kỳ.

    3. Thủy hải sản:

    Diện tích nuôi thủy sản trong tháng đạt 333 ha, tính chung 10 tháng năm 2023 đạt 15.676 ha, tăng 4,3% so cùng kỳ; trong đó: diện tích nuôi tôm đạt 8.172 ha, tăng 9,4%; diện tích nuôi cá đạt 4.484 ha, giảm 1,2% và diện tích nuôi thủy sản khác đạt 3.020 ha tương đương so cùng kỳ.

    Sản lượng thủy sản thu hoạch trong tháng đạt 22.223 tấn. Tính chung 10 tháng năm 2023 đạt 230.205 tấn, giảm 15,6% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi 148.272 tấn, tăng 0,8%; sản lượng khai thác 81.933 tấn, giảm 34,8%. Sản lượng thủy sản giảm chủ yếu ở sản lượng khai thác, do tình hình khai thác thủy sản vẫn tiếp tục gặp khó khăn, diễn biến thời tiết ở ngư trường có nhiều bất lợi, gió thổi mạnh, sóng cao và kéo dài nên phần lớn thời gian các tàu chỉ neo đậu, các tàu còn lại nắm được thông tin thì tiếp tục đậu bờ không đi khai thác vì sợ khai thác không đạt hiệu quả; tình trạng thiếu lao động đi biển vẫn còn xảy ra, do lao động nghề biển vất vả, nguy hiểm nhưng thu nhập không cao; giá nhiên liệu và giá nguyên liệu đầu vào tăng cao; nguồn lợi ngư trường suy giảm. Ngoài ra, số lượng tàu cá của tỉnh qua rà soát là 1.284 tàu, giảm 11% so với năm 2022.

    II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

    Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh dần phục hồi, tuy nhiên vẫn còn một số doanh nghiệp đang gặp khó khăn do đơn hàng xuất khẩu đã ảnh hưởng đến tình hình sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.

    Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2023 tăng 5,55% so với tháng trước (một số ngành sản xuất công nghiệp chủ yếu của tỉnh có chỉ số tăng như: Sản xuất kim loại tăng 12,28%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,89%; Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 5,5%..) và tăng 7,43% so cùng kỳ. Các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh có chỉ số tăng cao so cùng kỳ, như: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 62,98%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 61,7%; Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 26,24%; Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 23,06%; Sản xuất kim loại tăng 22,41% ...(ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,23%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 18,06%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 20,61%).

    Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng đầu năm 2023 tăng 3,39% so cùng kỳ; trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,07% (tập trung ở một số ngành chủ yếu sau: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 26,24%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 51,42%; Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 42,25%; Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 33,17% Sản xuất kim loại tăng 19,9%...); sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,74%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,43%.

 

Hình 3. Chỉ số sản xuất công nghiệp

    Chỉ số sản xuất sản phẩm trong 10 tháng so cùng kỳ như sau:

    - Có 24/41 sản phẩm tăng so cùng kỳ: Các bộ phận của bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động khác tăng 137,6%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng bột/cốm tăng 102,5%; Giấy vệ sinh tăng 55,1%; Các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác tăng 51,4%; Máy gặt đập liên hợp tăng 42,9%; Tàu thuyền lớn chuyên chở người và hàng hóa có động cơ đẩy tăng 33%; Thuốc chứa pênixilin hoặc kháng sinh khác dạng viên tăng 21,1%; Ống và ống dẫn bằng đồng tăng 19,2%; Phân vi sinh tăng 11,2%; Đồ chơi hình con vật hoặc sinh vật không phải hình người tăng 9,3%; Máy chế biến thịt gia súc hoặc gia cầm tăng 9,1%; Điện thương phẩm tăng 7,7%; Bia đóng chai tăng 7,5%; Giày, dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 7,1%; Thức ăn cho gia súc tăng 5,6%; Dịch vụ thu gom rác thải không độc hại có thể tái chế tăng 5,5%; Cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 4,5%; Dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu, thuyền tăng 4%; Nước uống được tăng 3,3%; Giày, dép thể thao có đế ngoài và mũ giày bằng cao su và plastic tăng 1,4%;…

    - Có 17/41 sản phẩm giảm so cùng kỳ: Cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục giảm 70,2%; Áo khoác dài, áo khoác không tay, áo khoác có mũ, áo gió cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 30,9%; Bóng thể thao khác giảm 30,4%; Thuốc diệt cỏ, thuốc chống nảy mầm và thuốc điều hòa sinh trưởng cây trồng giảm 28,5%; Dây thép không gỉ giảm 24,4%; Túi xách giảm 24%; Màn bằng vải khác giảm 23,4%; Cấu kiện làm sẵn cho xây dựng hoặc kỹ thuật dân dụng, bằng xi măng, bê tông hoặc đá nhân tạo giảm 13,8%; Bộ com lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài, quần yếm, quần soóc cho người lớn dệt kim hoặc đan móc giảm 7,5%; Phi lê đông lạnh giảm 5,7%; Thức ăn cho thủy sản giảm 5,5%; Bia đóng lon giảm 1,5%; Dịch vụ tiện các bộ phận kim loại giảm 0,2%;…

    * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

    - Chỉ số tiêu thụ tháng 10/2023 so với tháng trước tăng 4,85% và giảm 1,79% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 10 năm 2023 giảm 7,99%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 10,55%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 11,9%; sản xuất đồ uống giảm 6,58%, trong đó sản xuất bia giảm 6,58%; sản xuất trang phục giảm 55,25%; sản xuất da giảm 18,87%, trong đó sản xuất giày dép giảm 14,84%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 8,75%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 51,89%; sản xuất thiết bị điện giảm 52,42%, trong đó sản xuất dây cáp, dây điện…giảm 70,1%… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng: dệt tăng 5,31%, trong đó sản xuất sợi tăng 11,83%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ tăng 52,25%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 68,25%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 65,71%; sản xuất kim loại tăng 10,53%;…

    - Chỉ số tồn kho tháng 10/2023 tăng 1,18% so với tháng trước và tăng 56,1 lần so với cùng kỳ, do ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tiêu thụ gặp khó khăn. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng gấp 1,4 lần, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng gấp 0,6 lần; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 38,01%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 95,32%; sản xuất kim loại tăng gấp 2,2 lần, sản xuất trang phục tăng 16,74%;… Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: dệt giảm 45,83%, trong đó sản xuất hàng may sẳn giảm 74,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẳn giảm 39,68%; sản xuất thiết bị điện giảm 66,43%, trong đó sản xuất mô tơ điện giảm 67,66%; chế biến, chế tạo khác giảm 20,43%, trong đó sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 20,43%;…

    * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:

    - Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 3 khu công nghiệp (KCN) đi vào hoạt động (KCN Mỹ Tho, KCN Tân Hương, KCN Long Giang). Trong tháng, Ban Quản lý các khu công nghiệp không cấp giấy chứng nhận đầu tư mới nào; Điều chỉnh 4 giấy chứng nhận đăng ký đầu tư như: thông tin nhà đầu tư; quy mô dự án; tăng vốn đầu tư; ...

    Đến cuối tháng 10/2023, tổng số dự án tại các khu công nghiệp là 109 dự án (trong đó: có 81 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 2,4 tỷ USD và 4.561 tỷ đồng, diện tích thuê 528,3 ha/753,2 ha, chiếm tỷ lệ 70,1% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đang hoạt động.

    - Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 5 cụm công nghiệp đang hoạt động. Trong tháng không thu hút dự án mới; tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp đến nay là 79 dự án (trong đó: có 6 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 0,2 tỷ USD và 2.306 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 88,7 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 73,6%.

    III. ĐẦU TƯ - XÂY DỰNG

   Để hoàn thành kế hoạch đầu tư công năm 2023 phục vụ phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn. Ngay từ đầu năm 2023, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cấp chính quyền tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình dự án và giải ngân tốt nguồn vốn đầu tư công, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và giải quyết dứt điểm công tác đền bù, hỗ trợ, tái định cư, đẩy nhanh tiến độ thi công.

    Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng là 617 tỷ đồng, giảm 12,9% so cùng kỳ. Mười tháng thực hiện 4.850 tỷ đồng, đạt 79,7% kế hoạch, tăng 19,3% so cùng kỳ.

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 4.053 tỷ đồng, đạt 78,2% kế hoạch, tăng 27,2% so cùng kỳ, chiếm 83,6% tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 1.410 tỷ đồng, tăng 24,8% so cùng kỳ. Ngày 13/7/2023 Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-HĐND “Về việc bổ sung Kế hoạch đầu tư công tỉnh Tiền Giang năm 2023”, đã điều chỉnh kế hoạch đầu tư công năm 2023 bổ sung thêm 816,2 tỷ đồng. Các ngành các cấp yêu cầu các ban quản lý chủ đầu tư tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công của các dự án công trình trong những tháng cuối năm 2023, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, các công trình còn lại thi công đúng theo tiến độ đề ra.

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 457 tỷ đồng, đạt 84,9% kế hoạch, giảm 23% so cùng kỳ và chiếm 9,4% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 196 tỷ đồng, giảm 27,1% so cùng kỳ... Các Ban quản lý dự án huyện tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ thi công cho các công trình giao thông phục vụ ra mắt huyện nông thôn mới, các công trình cầu yếu trên các tuyến đường huyện, an toàn giao thông,…

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 340 tỷ đồng, đạt 92,6% kế hoạch, tăng 19% so cùng kỳ, chiếm 7% tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 183 tỷ đồng, giảm 2,4% so cùng kỳ... Các quản lý dự án tập trung điều kiện đẩy nhanh tiến độ để thực hiện các công trình giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng phục vụ địa phương. Trong đó, ưu tiên bố trí các dự án khởi công mới thuộc lĩnh vực giao thông, phòng, chống thiên tai, xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển, biến đổi khí hậu, xây dựng nông thôn mới. Nhằm phục vụ đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân đồng thời hoàn thành tiêu chí để ra mắt xã nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao.

Hình 4. Cơ cấu vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý - 10 tháng năm 2023

    IV. THƯƠNG MẠI - GIÁ CẢ - DỊCH VỤ

    1. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng:

    Trong tháng 10/2023, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh ổn định, lượng hàng hóa cung ứng cho thị trường dồi dào đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân. Các cửa hàng tiện ích tăng lượng dự trữ hàng hóa nên nguồn cung các mặt hàng lương thực, thực phẩm tương đối đầy đủ. Tại các chợ truyền thống, hàng hóa dồi dào, giá cả ổn định (mặc dù một vài mặt hàng có tăng hoặc giảm giá nhưng ở mức biến động không nhiều).

    Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trong tháng thực hiện 7.130 tỷ đồng, tăng 3% so tháng trước và tăng 8,3% so cùng kỳ. Mười tháng tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thực hiện 68.223 tỷ đồng, đạt 83,2% kế hoạch, tăng 12,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 53.039 tỷ đồng, tăng 12%; lưu trú 248 tỷ đồng, tăng 29,7%; ăn uống 5.582 tỷ đồng, tăng 14,9%; du lịch lữ hành 105 tỷ đồng, tăng 55,2%; dịch vụ tiêu dùng khác 9.249 tỷ đồng, tăng 11,3% so cùng kỳ.

 

Hình 5. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

    Hoạt động xúc tiến thương mại, Sở Công thương trình Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND) xin chủ trương xây dựng điểm bán sản phẩm OCOP tại cửa hàng của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) thương mại dịch vụ Trí Sơn (cặp Quốc lộ 50); Làm việc với các thương nhân về tình hình kinh doanh xuất khẩu gạo đối với các cơ sở xay, xát, chế biến thóc, gạo (Chi nhánh Công ty TNHH Lương thực thực phẩm Hiệp Lực - Nhà máy xay xát Hiệp Lực, Chi nhánh Công ty TNHH vận chuyển và giao nhận Toàn Cầu Việt - Nhà máy xay xát Trữ Nguyên, Công ty TNHH thương mại và phát triển Nhật Thành); Tham gia gian hàng tại Festival nông sản Việt Nam và Hội chợ Công Thương vùng Đồng bằng Sông Cửu Long tại tỉnh Vĩnh Long; Dự thảo Kế hoạch trình UBND tỉnh về việc chuẩn bị dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024;…

    2. Xuất - Nhập khẩu:

    a. Xuất khẩu:

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trong tháng ước thực hiện 309 triệu USD, tăng 45% so tháng trước; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước 76 triệu USD, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 232 triệu USD. Mười tháng ước xuất khẩu 3.977 triệu USD, đạt 102% kế hoạch, tăng 19% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 26 triệu USD, tăng 218,9%; kinh tế ngoài nhà nước 957 triệu USD, tăng 61%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2.994 triệu USD, tăng 9,3% so cùng kỳ.

    b. Nhập khẩu:

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng 10/2023 ước 184 triệu USD, giảm 13,8% so tháng trước. Mười tháng, ước kim ngạch nhập khẩu 2.208 triệu USD, đạt 96% kế hoạch, tăng 17,8% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước nhập 156 triệu USD, tăng 37,5%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nhập 2.052 triệu USD, tăng 16,5% so cùng kỳ. Nguyên liệu nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng như kim loại thường khác 714 triệu USD, giảm 1,5%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày 435 triệu USD, tăng 45,3%; vải các loại 205 triệu USD, tăng 7,2%; chất dẻo (plastic) nguyên liệu 67 triệu USD, giảm 33,9%... so cùng kỳ.

    3. Chỉ số giá:

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2023 giảm 0,05% so tháng 9/2023 (thành th gim 0,04%, nông thôn gim 0,06%); so cùng kỳ tăng 3,65%.

    So với tháng 9/2023, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, Có 03 nhóm giảm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,26%, (trong đó: lương thực tăng 1,68%, thực phẩm giảm 0,8%); giao thông giảm 2,14%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%. Có 07 nhóm tăng: đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,98%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,04%; Giáo dục tăng 0,32%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,01%; Hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,29%. Riêng nhóm chỉ số giá Thuốc và dịch vụ y tế ổn định.

    Một số mặt hàng có chỉ số giá giảm so với tháng trước:

    - Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,8% so với tháng trước, trong đó: chỉ số giá nhóm rau tươi, khô và chế biến giảm 2,36% do thời tiết thuận lợi nguồn cung dồi dào; chỉ số giá nhóm thịt gia súc giảm 0,78% (thịt lợn giảm 0,97%; thịt bò giảm 0,33%); thịt gia cầm giảm 2,05% (thịt gà giảm 2%; thịt gia cầm khác giảm 2,16%); thịt chế biến giảm 0,52%, nguyên nhân giá giảm là tháng trước có ngày lễ 02/9 nhu cầu tiêu dùng tăng nên giá tăng, sau lễ giá các loại thực phẩm này trở lại như những ngày bình thường, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (nhóm thực phẩm giảm như: giá thịt gia súc; thịt gia cầm  tôm tươi và ướp lạnh; rau tươi, khô và chế biến) giảm tác động làm CPI chung giảm khoảng 0,18 điểm phần trăm.

    - Giá xăng dầu giảm 4,4% so với tháng trước do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giảm giá ngày 02/10/2023, ngày 11/10/2023 và ngày 23/10/2023, góp phần kềm hãm tốc độ tăng CPI chung ở mức 0,21 điểm phần trăm

    - Giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 0,88%, trong đó vận tải hành khách bằng đường bộ giảm 2,56% (giá giảm là do tháng trước có lễ 02/9, nhu cầu đi lại của người dân tăng, các đơn vị kinh doanh vận chuyển hành khách được phép tăng  thêm 40% giá vé cơ bản để bù lại cho các chuyến xe chạy rỗng, qua lễ giá vé trở lại bình thường).

    Bên cạnh đó, một số mặt hàng có chỉ số giá tăng:

    - Ngày 01/10 giá gas trong nước đồng loạt điều chỉnh tăng 5,48% theo giá của thế giới, tương ứng tăng thêm 20.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước.

    - Giá điện sinh hoạt tăng 0,48%, giá nước tăng 0,08% so với tháng trước, do trong tháng một số địa phương có nắng nóng kéo dài, nhu cầu người dân sử dụng điện, nước sinh hoạt của người dân tăng, dẫn đến giá bình quân tăng lên.

    - Giá học phí giáo dục trung học phổ thông ngoài công lập (trường Dân lập Ấp Bắc) tăng 0,49%; giáo dục mầm non ngoài công lập tăng 1,46% (tăng chủ yếu là tiền ăn trưa), dẫn đến chỉ số giá dịch vụ giáo dục trong tháng 10/2023 tăng 0,32%, đóng góp vào mức tăng CPI chung khoảng 0,02 điểm phần trăm. Riêng giá học phí năm học (2023-2024) của các cấp bậc học trong công lập và các trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp trên địa bàn tỉnh chưa đổi so với năm trước.

    Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2023 so cùng kỳ tăng 2,35%. Một số nhóm hàng có giá tăng trong 10 tháng năm 2023 so cùng kỳ: nhóm Giáo dục tăng 7,17%, chủ yếu dịch vụ giáo dục tăng 7,47%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,77%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống 3,79%; nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 2,79%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,38%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,92%;…

    Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 10/2023 tăng 0,49% so tháng trước, giá bình quân tháng 10/2023 là 5.750 ngàn đồng/chỉ.

    Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 10/2023 tăng 1,19% so tháng trước, giá bình quân 24.576 đồng/USD.

    4. Du lịch:        

    Khách du lịch đến trong tháng 10/2023 được 84.759 lượt khách, giảm 2,7% so tháng trước, trong đó khách quốc tế 12.144 lượt khách, tăng 2,4% so tháng trước. Doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác trong tháng 10 đạt 1.630 tỷ đồng, tăng 7,4% so tháng trước và giảm 1,4% so cùng kỳ.

    Tính chung mười tháng đầu năm 2023, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 924 ngàn lượt khách, đạt 73,9% kế hoạch và tăng 43,8% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 98 ngàn lượt khách, tăng 4,6 lần so cùng kỳ. Tổng doanh thu thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng khác đạt 15.184 tỷ đồng, tăng 13,1% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 5.582 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 36,8%, tăng 14,9%; lưu trú đạt 248 tỷ đồng, tăng 29,7% so cùng kỳ...

    5. Vận tải:

    Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 224 tỷ đồng, tăng 3,2% so tháng trước và tăng 9,5% so cùng kỳ. Mười tháng thực hiện 2.035 tỷ đồng, tăng 11,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu vận tải hành khách thực hiện 533,2 tỷ đồng, tăng 15,8%; doanh thu vận tải hàng hóa thực hiện 1.298 tỷ đồng, tăng 10,7% so cùng kỳ. Doanh thu vận tải đường bộ thực hiện 827 tỷ đồng, tăng 12,5%; doanh thu vận tải đường thủy thực hiện 1.004 tỷ đồng, tăng 11,8%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 204 tỷ đồng, tăng 9% so cùng kỳ.

    Vận tải hành khách trong tháng đạt 1.560 ngàn hành khách, tăng 1,8% so tháng trước và tăng 11,1% so cùng kỳ. Luân chuyển 29.998 ngàn hành khách.km, tăng 2,7% so tháng trước và tăng 10% so cùng kỳ. Mười tháng, vận chuyển 13.930 ngàn hành khách, tăng 16,9% so cùng kỳ; luân chuyển 304.069 ngàn hành khách.km, tăng 11,5% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 4.566 ngàn hành khách, tăng 11,6% và luân chuyển 293.831 ngàn hành khách.km, tăng 11,3% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 9.364 ngàn hành khách, tăng 19,7% và luân chuyển 10.238 ngàn hành khách.km, tăng 16,7% so cùng kỳ.

    Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.449 ngàn tấn, tăng 4,3% so tháng trước và tăng 12,4% so cùng kỳ; luân chuyển 268.384 ngàn tấn.km, tăng 4,6% so tháng trước và tăng 12,5% so cùng kỳ. Mười tháng, vận tải 12.546 ngàn tấn hàng hóa, tăng 8% so cùng kỳ; luân chuyển 2.413.389 ngàn tấn.km, tăng 7,2% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ 1.863 ngàn tấn, tăng 7,9% và luân chuyển 371.170 ngàn tấn.km, tăng 8,8% so cùng kỳ; vận tải đường thủy 10.683 ngàn tấn, tăng 8,1% và luân chuyển 2.042.219 ngàn tấn.km, tăng 7% so cùng kỳ.

    * Công tác quản lý phương tiện giao thông:

    Trong tháng đăng ký mới 2.284 chiếc xe mô tô xe máy, 230 chiếc xe ô tô và 03 chiếc xe đạp điện. Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 1.477.020 chiếc, trong đó: mô tô xe máy 1.425.497 chiếc, 50.326 chiếc xe ô tô, 156 chiếc xe ba bánh, 464 chiếc xe đạp điện và 577 chiếc xe khác.

    6. Bưu chính viễn thông:

    Doanh thu trong tháng 10/2023 đạt 337 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước và tăng 2,3% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 34 tỷ đồng, tăng 0,7% và viễn thông 303 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước. Mười tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 3.287 tỷ đồng, tăng 3,6% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 325 tỷ đồng, tăng 13,7% và viễn thông 2.962 tỷ đồng, tăng 2,6% so cùng kỳ.

    Tổng số thuê bao điện thoại có trên mạng đến cuối tháng 10/2023 là 125.574 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,06 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao internet có trên mạng cuối tháng 10/2023 là 380.811 thuê bao, mật độ internet bình quân đạt 21,4 thuê bao/100 dân. Số lượng điện thoại cố định có dây, không dây tiếp tục giảm, do thị trường phát triển thuê bao dần bảo hòa dẫn đến khách hàng dần chuyển sang sử dụng điện thoại di động, trong đó chủ yếu là điện thoại di động trả trước. Số thuê bao điện thoại di động có sử dụng internet (3G, 4G) đến cuối tháng 10/2023 là 1.469.825 thuê bao.

    V. TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

    1. Tài chính:

    Thu ngân sách trên địa bàn trong tháng thực hiện 679 tỷ đồng; trong đó: thu nội địa 659 tỷ đồng. Mười tháng, thu 7.972 tỷ đồng, đạt 77.49% dự toán, giảm 12,1% so cùng kỳ; trong đó: thu nội địa 7.723 tỷ đồng, đạt 78,1% dự toán, giảm 11,4% so cùng kỳ (trong thu ngân sách trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.345 tỷ đồng, đạt 72,2% dự toán, giảm 12,2% so cùng kỳ; thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đạt 853 tỷ đồng, đạt 74,1% dự toán, giảm 25% so cùng kỳ...).

    Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 901 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 310 tỷ đồng. Mười tháng, chi 11.797 tỷ đồng, đạt 83,6% dự toán, tăng 6,7% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 4.409 tỷ đồng, đạt 83,3% dự toán, tăng 7,2% so cùng kỳ;chi hành chính sự nghiệp 5.620 tỷ đồng, đạt 72,7% dự toán và giảm 0,1% so cùng kỳ.

    2. Ngân hàng:

    Trong tháng 10/2023, Ngành Ngân hàng tiếp tục chấp hành nghiêm túc các quy định về lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhất là các mức trần lãi suất huy động và trần lãi suất cho vay.

    - Đến cuối tháng 9/2023, vốn huy động đạt 93.973 tỷ đồng, đạt 107,11% kế hoạch, tăng 6.236 tỷ, tăng 7,11% so cuối năm 2022; Tổng dư nợ cho vay của các TCTD trong tỉnh đạt 92.998 tỷ, tăng 6.977 tỷ, tỷ lệ tăng 8,11% so với cuối năm 2022. Các tổ chức tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn cho 940.962 lượt khách hàng vay vốn với doanh số cho vay lũy kế từ đầu năm đạt 118.359 tỷ đồng. Ước đến cuối tháng 10/2023, vốn huy động đạt 94.370 tỷ đồng, tăng 6.633 tỷ đồng, tăng 7,56% so với cuối năm 2022; tổng dư nợ cho vay đạt 93.479 tỷ, tăng 7.458 tỷ đồng, tăng trưởng tương đương 8,67%.

    - Đến cuối tháng 9/2023, Lãi suất huy động hầu hết các chi nhánh Ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh giảm mạnh, từ 7%/năm trở xuống đối với tất cả các kỳ hạn. Không chỉ lãi suất kỳ hạn ngắn mà lãi suất kỳ hạn dài cũng được điều chỉnh giảm phổ biến từ mức trên 4% đến 5%/năm. Ngân hàng nhà nước tỉnh thường xuyên chỉ đạo các Tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí để giảm mặt bằng lãi suất cho vay (LSCV) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh. Mặt bằng LSCV bằng Việt Nam đồng trên địa bàn tỉnh phổ biến ở mức trên 4-9%/năm đối với ngắn hạn (chiếm 55,25% tổng dư nợ); trên 11-13%/năm đối với trung dài hạn (chiếm 38,24% tổng dư nợ trung dài hạn). Lãi suất cho vay bằng USD dao động từ 3,5%-8,9%/năm; tập trung phổ biến ở mức trên 3%-6%/năm tùy thời hạn (chiếm 85,2% dư nợ ngoại tệ).

    - Nợ xấu: đến cuối tháng 9/2023, số dư là 1.718 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu 1,85%, tăng 1,16% so với cuối năm 2022. Ước đến cuối tháng 10/2023, nợ xấu là 1.789 tỷ đồng, tỷ lệ 1,91%, tăng 1,22% so với cuối năm 2022.

    - Hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định, các chỉ tiêu đều đạt mức tăng trưởng. Một số kết quả đạt được đến cuối tháng 9/2023 so với cuối năm 2022 như sau: tổng nguồn vốn hoạt động đạt 1.462 tỷ đồng, tăng 5,8% so với cuối năm 2022, đáp ứng nhu cầu vốn cho 7.882 lượt thành viên vay vốn từ đầu năm đến nay; tỷ lệ nợ xấu 0,44%, giảm 0,23% so với cuối năm 2022.

    VI. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

    Trong tháng, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt Quyết định ban hành Quy định quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh và ra quyết định triển khai 6 nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) cấp tỉnh; tổ chức Họp Hội đồng tư vấn giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện 1 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh; kiểm tra tiến độ thực hiện 5 nhiệm vụ KH&CN (3 cấp tỉnh, 2 cấp cơ sở); nghiệm thu kết thúc 3 nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh. Tổ chức họp mở, kiểm tra và xác nhận tính hợp lệ của hồ sơ tham gia tuyển chọn, giao trực tiếp thực hiện nhiệm vụ KH&CN (9 nhiệm vụ cấp tỉnh; 3 nhiệm vụ cấp cơ sở).

    Đến tháng 10/2023, thẩm định nội dung 7 nhiệm vụ KH&CN (5 cấp tỉnh, 2 cấp cơ sở); quyết định triển khai 12 nhiệm vụ (11 cấp tỉnh, 1 cấp cơ sở); nghiệm thu kết thúc 16 nhiệm vụ (7 cấp tỉnh, 6 cấp cơ sở); quyết định công nhận 9 nhiệm vụ (4 cấp tỉnh, 5 cấp cơ sở); gia hạn 1 nhiệm vụ cấp cơ sở.

    VII. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

    1. Lao động việc làm:

    Trong tháng, tư vấn cho 2.351 lượt lao động, tăng 41,1% so cùng kỳ, trong đó: tư vấn nghề cho 80 lượt lao động; tư vấn việc làm cho 1.743 lượt lao động thất nghiệp; tư vấn pháp luật lao động và tư vấn khác cho 70 lượt lao động.

    Giới thiệu việc làm cho 574 lượt lao động, tăng 84,5% so cùng kỳ, trong đó có 285 lao động có được việc làm ổn định, giảm 3,4%.

    Tư vấn đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài cho 101 lượt lao động, tăng 71,2% so với cùng kỳ; có 16 lao động đăng ký tham gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, tăng 15 lần; có 48 lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài, qua các thị trường: Nhật Bản 42 lao động, Đài Loan 05 lao động và Trung Quốc 01 lao động, tăng 45,5%.

    Ghi nhận 1.601 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 40,3% so cùng kỳ; 1.663 lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 20,2% với số tiền chi trả khoảng 32,1 tỷ đồng.

    2. Chính sách xã hội:

    Đưa 70 người có công đi viếng lăng Bác Hồ, tham quan thủ đô Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc năm 2023; đưa 8 cựu nữ tù binh trại giam Phú Tài tham dự chương trình gặp mặt tại tỉnh Bình Định.

    Thực hiện chế độ mai táng phí và 03 tháng trợ cấp đối với 76 trường hợp; trợ cấp thờ cúng 22 trường hợp; trợ cấp thờ cúng và chuyển trợ cấp thờ cúng 52 trường hợp; giải quyết mai táng phí 1 lần 28 trường hợp; mai táng phí tuất 08 trường hợp; trợ cấp con liệt sĩ tàn tật 05 trường hợp; hưởng thêm chế độ thương binh 03 trường hợp; trợ cấp mai táng phí theo các Quyết định 290/2005/QĐ-TTg, 62/2011/QĐ-TTg, 49/2015/QĐ-TTg, 40/2011/QĐ-TTg: 28 trường hợp.

    3. Hoạt động y tế:

    Trong tháng có 8/44 bệnh truyền nhiễm được ghi nhận. Cộng dồn số ca mắc, có 10 bệnh tăng so cùng kỳ (bệnh do vi rút Adeno, Lao phổi, Liệt mềm cấp nghi bại liệt, Sởi, Tay - chân - miệng, Thương hàn, Thủy đậu, Tiêu chảy, Uốn ván khác, Viêm não vi rút khác); 6 bệnh giảm so cùng kỳ (Bệnh do liên cầu lợn ở người, Quai bị, Sốt xuất huyết Dengue, Viêm gan vi rút B, Viêm gan vi rút Covid -19); 28 bệnh tương đương hoặc không xảy ra ca mắc.

    Phòng chống bệnh Sốt xuất huyết: trong tháng ghi nhận 317 ca, tính từ đầu năm 2023 ghi nhận 2.937 ca, giảm 57,2% so cùng kỳ và 01 trường hợp tử vong tại xã Mỹ Hạnh Trung, TX Cai Lậy.

    Phòng chống HIV/AIDS: Tính đến nay, toàn tỉnh có 6.724 người nhiễm HIV; 1.819 người chuyển sang AIDS; tử vong do AIDS: 1.317 người.

    Tình hình khám chữa bệnh: Tổng số lần khám bệnh 381.506 lượt người tăng 2,8% so cùng kỳ; tổng số người điều trị nội trú 23.742 lượt người, tăng 34,8% so cùng kỳ. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân trong tháng đạt 74,7%.

    4. Hoạt động giáo dục:

    Hoạt động giáo dục tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”, thực hiện những giải pháp lâu dài nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Trong tháng, Hội đồng bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia trung học phổ thông năm học 2023 – 2024 được thành lập và tổ chức bồi dưỡng từ ngày 09/10/ 2023 đến 31/12/2023 (dự kiến 12 tuần) nhằm trang bị kiến thức cho các em học sinh để mang vinh quang về cho tỉnh nhà trong Kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia năm học này.

    Tổ chức đánh giá ngoài năm học 2023 - 2024 và công nhận trường mầm non, phổ thông đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục, công nhận trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia theo đăng ký. Cụ thể: tổ chức đánh giá ngoài các đơn vị gồm huyện Cái Bè: TH-THCS Thiện Trí, Mầm non An Hữu; huyện Châu Thành: Mầm non Hữu Đạo, Tiểu học Đông Hòa; thành phố Mỹ Tho: THCS Lê Ngọc Hân; thị xã Gò Công: Mẫu giáo Bình Minh; huyện Cai Lậy: THCS Mỹ Thành Bắc, THCS Phú Cường, Tiểu học Mỹ Thành Bắc; huyện Tân Phú Đông: Mầm non Tân Phú; THCS-THPT Đoàn Trần Nghiệp, THPT Tứ Kiệt, THPT Lê Thanh Hiền.

    5. Hoạt động văn hóa – thể thao:

    Hoạt động bảo tàng: tổ chức trưng bày phục vụ kỷ niệm 115 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Thị Thập; phục vụ chương trình viếng, thắp hương và trồng cây lưu niệm tại khu di tích Nam kỳ khởi nghĩa. Trong tháng, Bảo tàng tỉnh và các di tích quốc gia đã đón 5.863 lượt khách.

    Hoạt động văn hóa nghệ thuật: tổ chức Hội thi Tuyên truyền lưu động chủ đề “Cải cách hành chính” năm 2023. Cuộc thi tài năng diễn viên cải lương toàn quốc tại Bạc Liêu (từ ngày 23-25/9) với kết quả 01 giải nhì dành cho diễn viên Nguyễn Thế An biểu diễn trích đoạn Trời Nam. Thực hiện tuyên truyền 20 ụ cờ, 20 pano, 30 cờ phướn và 14 suất nhạc nước phục vụ Nhân dân tại quảng trường Hùng Vương.

    Hoạt động thư viện: tổ chức 10 Chuyến xe tri thức, phục vụ hơn 5.000 lượt học sinh. Trong tháng, Thư viện tỉnh đã phục vụ được 11.918 lượt bạn đọc với 13.124 lượt sách báo được đưa ra lưu hành.

    Hoạt động Thể dục, Thể thao:

    Các giải thể thao được tổ chức như: Giải Cầu lông Công đoàn viên chức tỉnh Tiền Giang năm 2023, từ ngày 19/9 – 22/9/2023; Giải Bóng chuyển Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Tiền Giang năm 2023, từ ngày 26/9 – 29/9/2023; Giải Cầu lông Đại hội thể thao Đồng bằng Sông Cửu Long lần thứ IX – Hậu Giang năm 2023, từ ngày 05/10 – 09/10/2023; Giải vô địch Bóng đá tỉnh Tiền Giang, từ ngày 10/10 – 25/10/2023.

    Đội Vovinam tham dự Đại hội thể thao Đồng bằng Sông Cửu Long lần thứ IX – Hậu Giang năm 2023, từ ngày 08/9 – 15/9/2023 tại Hậu Giang với kết quả đạt 03 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc và 07 Huy chương Đồng.

    Đội Bơi lội tham dự Đại hội thể thao Đồng bằng Sông Cửu Long lần thứ IX – Hậu Giang năm 2023, từ ngày 10/9 – 15/9/2023 tại Tiền Giang với kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc và 05 Huy chương Đồng.

    Đội Muay tham dự Giải vô địch Muay quốc gia năm 2023, từ ngày 14/9 – 25/9/2023 tại Thái Nguyên với kết quả đạt 01 Huy chương Bạc và 04 Huy chương Đồng.

    Đội Cầu lông tham dự Giải Cầu lông Đại hội thể thao Đồng bằng Sông Cửu Long lần thứ IX-Hậu Giang năm 2023, từ ngày 05/10-09/10/2023 tại Tiền Giang với kết quả đạt 04 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc và 01 Huy chương Đồng.

    Cử 02 vận động viên tham dự Đại hội thể thao Châu Á lần thứ 19, từ ngày 16/9 – 09/10/2023 tại Trung Quốc với kết quả đạt 01 Huy chương Đồng.

    Đội Vovinam tham dự Giải vô địch Vovinam toàn quốc lần thứ 27 năm 2023, từ ngày 06/10-17/10/2023 tại Nam Định.

    6. Trật tự an toàn giao thông (theo báo cáo ngành Công an):

    Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 25 vụ, giảm 08 vụ so tháng trước và giảm 04 vụ so cùng kỳ; làm chết 20 người, giảm 03 người so tháng trước và giảm 06 người so cùng kỳ; bị thương 08 người, giảm 07 người so tháng trước và giảm 08 người so cùng kỳ. Nâng tổng số vụ tai nạn từ đầu năm đến nay là 223 vụ, giảm 99 vụ so cùng kỳ; làm chết 164 người, giảm 66 người và bị thương 107 người, giảm 51 người. Các nguyên nhân gây nên tai nạn giao thông như: đi không đúng phần đường, làn đường; không nhường đường; chuyển hướng không đúng quy định, vượt không đảm bảo an toàn.

    Giao thông đường thủy: trong tháng không xảy ra. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ tai nạn, không có người chết và người bị thương.

    7. Tình hình an ninh trt t an toàn xã hi (theo báo cáo ngành Công an):

    Tình hình an ninh trật tự trong tháng được đảm bảo. Tội phạm về trật tự xã hội ghi nhận 66 vụ, tăng 03 vụ so với tháng 9/2023, giảm 16 vụ so với tháng 10/2022, bị thương 14 người, tài sản thiệt hại khoảng 2,3 tỷ đồng, điều tra khám phá 52 vụ (đạt 78,8%), bắt xử lý 67 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 949 triệu đồng. Tính đến tháng 10 năm 2023, ghi nhận 670 vụ, tăng 19 vụ so cùng kỳ, điều tra khám phá đạt 81%, bắt xử lý 1.092 đối tượng, thu hồi tài sản khoảng 4,6 tỷ đồng.

    Phát hiện, xử lý 07 vụ với 12 đối tượng phạm tội về ma túy, tang vật thu giữ 256,4g ma túy tổng hợp; xử lý vi phạm hành chính 107 đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

    8. Tình hình cháy n, môi trường và thiên tai:

    Trong 10 tháng năm 2023, cháy, nổ ghi nhận 09 vụ, giảm 03 vụ so cùng kỳ; tài sản thiệt hại trị giá khoảng 11 tỷ đồng; nguyên nhân chủ yếu do sự cố về điện, người dân bất cẩn trong sử dụng lửa.

    Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ vi phạm với số tiền xử phạt khoảng 4,4 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến nay, ghi nhận 20 vụ vi phạm, giảm 04 vụ với số tiền xử phạt khoảng 4,8 tỷ đồng.

    Tình hình thiên tai trong tháng xảy ra 03 cơn lốc xoáy trên 04 địa bàn cấp huyện: làm 36 căn nhà bị tốc mái (huyện Gò Công Tây: 14 căn, huyện Chợ gạo: 06 căn, huyện Tân Phú Đông: 08 căn và thị xã Gò Công: 08 căn); làm gãy đổ 01 trụ điện hạ thế và làm ngã đổ 14 cây ăn trái với tổng giá trị thiệt hại khoảng 360 triệu đồng. Tính chung 10 tháng năm 2023, xảy ra 16 cơn lốc xoáy; làm 05 căn nhà bị sập; 305 căn nhà bị tốc mái; 18.754 cây ăn trái bị ngã đổ; 35 điểm đê bị sạt lở với tổng giá trị thiệt hại khoảng 84 tỷ đồng.

Số liệu ước tháng 10 năm 2023

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 29)
Trang:1 - 2 - 3Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 4 năm 2024 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2023 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*)

-0,8

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

+8,7

Khách quốc tế đến Tiền Giang

+46,8

Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước

-4,8

Chỉ số giá tiêu dùng (*)

+0,63

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2024 (xem chi tiết):

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 7,0 – 7,5% so với năm 2023;

- Cơ cấu kinh tế: khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 35,1%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,6%, khu vực dịch vụ (bao gồm thuế sản phẩm) chiếm 35,3%.

- GRDP bình quân đầu người đạt 75,8 - 76,2 triệu đồng/người/năm;

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 5 tỷ USD;

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 50.400 – 50.650 tỷ đồng;

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 8.801 tỷ đồng;

- Tổng chi ngân sách địa phương 14.456 tỷ đồng;

- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 890 doanh nghiệp.

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 17
Truy cập: 2.076.335
Truy cập tháng: 63.303
User IP: 3.229.117.191

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn